Đặc trưng lao động trong cơ quan hành chính nhà nước - phần 3

Chủ đề: 
Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước mang đặc trưng tâm lý – xã hội cao


Nội dung

1.    Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước
1.1 Chủ thể
1.2 Đối tượng
1.3 Nội dung
2.    Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước mang đặc trưng tâm lý xã hội cao
2.1 Tại sao lao động trong cơ quan hành chính nhà nước mang đặc trưng tâm lý – xã hội cao?

2.1.1   Hoạt động lao động trong cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động lao động trí óc và mang nhiều tính sáng tạo

2.1.2   Là hoạt động quản lý con người

2.1.3   Chủ thể lao động trong cơ quan hành chính nhà nước là cán bộ, công chức – là chủ thể có ảnh hưởng rất lớn trong dư luận và đánh giá của xã hội

2.1.4   Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật

2.1.5   Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện những công việc mang tính phục vụ

2.1.6   Hoạt động lao động trong cơ quan hành chính nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội

2.1.7   Các nguyên nhân khác

2.2 Đặc trưng tâm lý – xã hội trong hoạt động lao động trong cơ quan hành chính nhà nước biểu hiện như thế nào?
2.2.1 Thể hiện trong quy định của pháp luật
2.2.2 Thể hiện trên thực tế
3.  Kết luận

Phần chi tiết:

1.    Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước
1.1                       Chủ thể
Những người làm việc trong cơ quan HCNN bao gồm nhiều chủ thể khác nhau, như: cán bộ, công chức, lao động hợp đồng dài hạn, lao động hợp đồng ngắn hạn, lao động theo hình thức thuê mướn thực hiện công việc…
Theo quy định của luật cán bộ công chức:
1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 
2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
3. Cán bộ xã, phường, thị trấn  là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
1.2                        Đối tượng
Thứ nhất: đối tượng của lao động trong cơ quan hành chính nhà nước trước hết phải kể đến con người, trong đó bao gồm cán bộ công chức, các cấp cũng như các công dân. Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước trước hết là sự chỉ đạo, phối hợp hoạt động giữa cấp trên với cấp dưới và những lao động ngang hàng với nhau theo thứ bậc nền hành chính.
Ví dụ: trong công tác định biên, Sở Nội vụ các tỉnh thực hiện tổng hợp và hướng dẫn xác định biên chế tại địa phương rồi báo cáo lên Bộ Nội vụ; khi ban hành một quyết định hành chính, thủ trưởng cơ quan cần phải chỉ đạo bộ phận văn phòng lưu lại các quyết định và văn bản liên quan...
Thứ hai: Các loại văn bản quyết định quản lý, văn bản pháp lý, hồ sơ, đơn thư khiếu nại, tố cáo,… Bản chất của quản lý chính là ra các quyết định quản lý, nên đối tượng của lao động trong cơ quan hành chính nhà nước tất yếu phải có các văn bản, hồ sơ cũng như giấy tờ liên quan
Ví dụ: đơn khiếu nại của công dân về việc quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, biên bản phạt người tham gia giao thông khi vượt đèn đỏ, các văn bản pháp luật...
          Thứ ba: các vấn đề quản lý theo thẩm quyền
Ví dụ: Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước
          Thứ tư: các đối tượng quản lý đặc thù khác
Ví dụ: chỉ có tỉnh nào giáp biên giới thì trong cơ cấu của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh mới có Sở Ngoại vụ
1.3                        Nội dung
Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nhiều hoạt động khác nhau, trong đó bao gồm các nội dung chính sau:
·       Quản lý cán bộ, công chức, nhân viên; đánh giá thực thi công việc; bố trí, sắp xếp công việc; đề bạt, luân chuyển Cán bộ, công chức,…
·       Ra quyết định quản lý: tuyển dụng, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, đề bạt, chuyển ngạch, luân chuyển; quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách tổ chức,…
·       Báo cáo, giải trình nội dung công tác;
·       Tiếp đón công dân, giải quyết hồ sơ thủ tục.
·       Thực hiện một số công việc mà chỉ nhà nước mới đảm nhận (tư nhân không muốn làm, liên quan dến bí mật quốc gia…)
2.    Lao động trong cơ quan HCNN mang đặc tính tâm lý – xã hội cao
Một trong những đặc trưng riêng có của lao động trong cơ quan hành chính nhà nước là mang đặc tính tâm lý xã hội cao.
Để làm rõ đặc trưng này của lao động trong cơ quan hành chính nhà nước cần làm rõ hai vấn đề cơ bản:
Một là, tại sao lao động trong cơ quan hành chính nhà nước lại mang đặc tính tâm lý – xã hội cao?
Hai là, biểu hiện của đặc tính tâm lý xã hội của lao động trong cơ quan hành chính nhà nước?

2.1 Tại sao lao động trong CQHCNN mang đặc tính tâm lý - xã hội cao?

Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước mang đặc trưng tâm lý – xã hội cao xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm:

2.1.1   Hoạt động lao động trong cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động lao động trí óc và mang nhiều tính sáng tạo

Đặc trưng chung của hoạt động lao động trong cơ quan hành chính nhà nước là lao động trí óc. Đặc trưng chung đó chính là đặc điểm cơ bản mà từ đó dẫn đến những đặc điểm khác của hoạt động lao động quản lý và những yêu cấu cần được lưu ý trong quá trình tổ chức lao động cho lao động trong các cơ quan hành chính.
Lao động trí óc có thể hiểu là sự tiêu hao sức lao động dưới tác động chủ yếu về các khả năng trí tuệ và thần kinh tâm lý đối với con người trong quá trình lao động. Do đó, khi nói ‘hoạt động lao động trong cơ quan hành chính nhà nước là lao động trí óc” có nghĩa là: đó là hoạt động lao động chủ yếu bằng trí óc.
Vì là hoạt động lao động chủ yếu bằng trí óc nên hoạt động lao động của lao động trong cơ quan hành chính nhà nước mang đặc tính sáng tạo nhiều hơn so với lao động chân tay.
Ví dụ: việc ban hành nghị định 204/2004/NĐ-CP của Chính Phủ về Về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, muốn ban hành được nghị định này, Chính phủ phải tính đến nhiều yếu tố khác nhau, nhu: điều kiện sinh hoạt của cán bộ công chức, giá cả sinh hoạt, giá cả các dịch vụ sinh hoạt và tiêu dùng, công chức có động lực làm việc như thế nào khi áp dụng hệ thống thang bảng lương theo nghị định...
tất cả những điều đó đều cho thấy không phải bằng sức lao động cơ bắp đã có thể hoàn thành được công việc trong cơ quan hành chính nhà nước mà luôn phải huy động và sử dụng rất nhiều đến hoạt động trí óc và thần kinh của người lao động.



2.1.2 Là hoạt động quản lý con người

Không có hoạt động nào phức tạp bằng những hoạt động liên quan đến con người, nhất là hoạt động quản lý con người. Con người vừa là chủ thể vừa là đối tượng trong quản lý. Con người có tâm lý, có hành vi rất phức tạp vì con người có trí óc, có tình cảm, xúc cảm, và trong những trường hợp khác nhau thì tâm lý cũng như hành vi của con người cũng khác nhau.

Hoạt động quản lý con người trong cơ quan hành chính nhà nước trước hết là quản lý chính những người làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước.

Ví dụ: chủ tịch UBND tỉnh quản lý Giám đốc các Sở, chủ tịch

          Thứ hai là quản lý các đối tượng là con người trong xã hội

Ví dụ: quản lý hành vi tham gia giao thông người tham gia giao thông, đăng ký tạm trú tạm vắng…

2.1.3 Chủ thể lao động trong cơ quan hành chính nhà nước là cán bộ, công chức – là chủ thể có ảnh hưởng rất lớn trong dư luận và đánh giá của xã hội

          Chủ thể lao động trong cơ quan hành chính nhà nước chủ yếu là cán bộ công chức, trong xã hội hiện nay cán bộ công chức luôn là đối tượng đánh giá và được đem ra so sánh nhiều nhất trong xã hội về nhiều mặt như: tiền lương, đạo đức, văn hóa giao tiếp, văn hóa tham gia vào các hoạt động của cộng đồng... Nên lao động của cán bộ công chức mang tính nhạy cảm cao và có ảnh hưởng tâm lý xã hội lớn đến các đối tượng trong xã hội.

  Ví dụ: tiền lương tối thiểu áp dụng cho cán bộ công chức hiện nay là 1.050.000 đồng, đó luôn là tiêu chí đánh giá và so sánh với các chủ thể hưởng làm công ăn lương khác trong xã hội

 

2.1.4 Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật

          Điều này thể hiện rất rõ trong việc ban hành một quyết đinh quản lý, một quyết đinh quản lý muốn ban hành và thực hiện tốt trên thực tế phải đảm bảo hai yếu tố là hợp pháp và hợp lý.

          Có những quyết định quản lý ban hành hợp pháp nhưng không thể tiến hành trên thực tế vì không phù hợp với văn hóa cũng như phong tục của cộng đồng dân cư hay không phù hợp với điều kiện thực tế

Ví dụ: thực hiện lưu hành tiền xu ở Việt Nam trong những năm trước đã không thành công vì người dân không chấp nhận với những đồng tiền xu dễ rơi và không được sử dụng nhiều vì số lượng các máy bán hàng tự động trên cả nước là rất ít; việc triển khai thực hiện đề án 112 về xây dựng chính phủ điện tử, điều này là hợp với chủ trương đường lối phát triển của Đảng và nhà nước, tuy nhiên cơ sở vật chất cho việc tiến hành thực hiện đề án và các điều kiện liên quan khác đặc biệt là trình độ sử dụng công nghệ thông tin của cán bộ công chức còn hạn chế...

2.1.5 Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện những công việc mang tính phục vụ

Toàn bộ hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước thực chất mang tính phục vụ xã hội, cơ quan nhà nước chỉ làm những việc mà tư nhân không muốn làm, tư nhân không thể làm hoặc những công việc liên quan đến bí mật quốc gia.

          Bản thân hoạt động hành pháp thực chất là đưa pháp luật vào đời sống, dưới góc độ này nó mang tính chất phục vụ quyền lập pháp

Cơ quan hành chính nhà nước hoạt động không vì mục đích tự thân mà hoạt động vì lợi ích chung cho toàn xã hội.

Ví dụ: việc tiến hành tiêm vacxin phòng chống các bệnh cho trẻ em đều do nhà nước thực hiện mà đứng đầu là Bộ Y tế, các công việc này mang lại lợi nhuận rất thấp thậm chí là dễ lỗ vốn nên tư nhân không làm, và đều do nhà nước thực hiện, trên thực tế nhà nước phải bù lỗ hoặc tiến hành tiêm miễn phí cho người dân; việc kiểm định chất lượng hàng hóa của cơ quan quản lý chất lượng không nhằm đem lại lợi nhuận mà nhằm đảm bảo hàng hóa và dịch vụ trên thị trường được đảm bảo về chất lượng và an toàn cho người dân...

2.1.6 Hoạt động lao động trong cơ quan hành chính nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội

Hoạt động lao động trong CQHCNN ảnh hưởng đến nhiều đối tượng trong xã hội.

Ví dụ: ban hành và thực hiện việc cho sinh viên có điều kiện khó khăn vay vốn để có tiền đi học tạo điều kiện rất lớn cho một bộ phận rất lớn các gia đình có điều kiện khó khăn cho con em đi học; và các ví dụ điển hình khác như ban hành chính sách xóa đói giảm nghèo, cải cách hành chính...

          Các quy định, các chính sách ban hành không phải chỉ tác động trong thời gian ngắn và tầm ảnh hưởng nhỏ.

  Ví dụ: tiến hành tăng lương tối thiểu làm ảnh hưởng rất lớn đến giá cả sinh hoạt và tiêu dùng trong xã hội cũng như mức lương của các nhóm lao động khác trong xã hội nhất là khu vực tư nhân.

Ban hành các chính sách có nội dung liên quan đến các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và phát triển ổn định, bền vững.

Lao động trong cơ quan HCNN cần thận trọng, chính xác, khách quan và đảm bảo công bằng xã hội.

2.1.7 Các nguyên nhân khác

          Bên cạnh các nguyên nhân kể trên còn nhiều nguyên nhân khác trực tiếp hoặc dán tiếp tạo ra đặc trưng tâm lý – xã hội cao cho hoạt động lao động trong cơ quan hành chính nhà nước, như:

·       Lao động mang tính gián tiếp – không trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội

·       Hoạt động lao động được đảm bảo từ ngân sách nhà nước

·       ...

2.2 Biểu hiện của đặc tính tâm lý-xã hội của lao động trong CQHCNN
          Biểu hiện của đặc trưng tâm lý- xã hội của lao động trong cơ quan hành chính nhà nước được thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó quan trọng và nổi bật nhất là biểu hiện ở khía cạnh quy định của pháp luật và biểu hiện trên thực tế.

2.2.1 Biểu hiện ở khía cạnh pháp luật
Điều 3 quy định nguyên tắc thực thi công vụ: “Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” điều này  thể hiện tính phục vụ trong lao động thuộc CQHCNN,và         “Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát”.
Điều 17 luật cán bộ công chức quy định: “Cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc”
Điều 18, 19, 20 quy định những việc cán bộ công chức không được làm, như:“không phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức”,“không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước dưới mọi hình thức”…
          Những quy định trên của luât cán bộ công chức cho thấy hoạt động lao động của cán bộ công chức luôn có một chuẩn mực nhất định đòi hỏi cán bộ, công chức phải tuân thủ trong thực thi công việc.
          Ở khía cạnh pháp luật, lao động trong cơ quan hành chính nhà nước cũng thể hiện được đặc trưng tâm lý xã hôi cao nhưng chủ yếu chỉ thể hiện một cách gián tiếp, mà đặc trưng này chủ yếu thể hiện trên thực tế nhiều hơn.
2.2.2 Biểu hiện trên thực tế
Thứ nhất, nhu cầu xã hội
Nắm bắt nhu cầu xã hội và đưa ra các chính sách thích hợp, các chiến lược, chính sách trong quản lý hành chính nhà nước luôn phải xuất phát từ thực tế, phải dựa trên nhu cầu thực tế của đời sống xã hội. Điều này được thể hiện rõ nét trên thực tế.
Ví dụ:      
·        Quyết định xây dựng đường cao tốc trên cao từ ngã tư Mai Dịch đến Pháp Vân nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, vì với hệ thống giao thông hiện tại dưới mặt đất thì trong tương lai sẽ không đáp ứng nổi nhu cầu đi lại của hàng trăm khu chung cư cao tầng tại khu vực này.
·        Quyết định xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất nhằm đáp ứng nhu cầu về xăng dầu của cả nước trong tương lai, và quyết định đặt nhà máy lọc dầu Dung Quất tại Quảng Ngãi với nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng là thúc đẩy kinh tế miền trung phát triển hơn.
·        Đề xuất tăng lương tối thiểu...


Thứ hai, tạo điều kiện duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội, tăng khả năng trao đổi thông tin
Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước giúp tạo điều kiện và duy trì các mối quan hệ xã hội, tăng khả năng trao đổi thông tin
Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước trước hết giúp tạo lập mối quan hệ với chính những người lao động trong việc phối hợp, hợp tác lao động trong giải quyết chức năng, nhiệm.
Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước còn giúp tạo lập mối quan hệ giữa nhà nươc với nhân dân với doanh nghiệp thông qua giải quyết các nhu cầu của người dân trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan.
Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước giúp cơ quan hành chính nhà nước truyền đạt các chủ trương, chính sách đến với các tầng lớp dân cư, và ngược lại giúp cơ quan nắm bắt được các thông tin phản hổi từ phía người dân
Ví dụ: trong việc giải quyết khiếu nại hành chính giúp cơ quan nhà nước tìm ra được những sai sót trong cơ chế, chính sách và giúp bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nhân dân từ đó nâng cao hiệu lực hiệu quả của quản lý nhà nước.
Thứ ba, phát huy khả năng sáng tạo
 Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước không đơn giản là tiến hành theo các quy luật hay quy trình định sẵn mà trên thực tế cần phải sáng tạo cho phù hợp với thực tế.
Thêm vào đó lao động trong cơ quan hành chính nhà nước là lao động trí óc, hoạt động trí óc của người lao động luôn thay đổi cho phù hợp với thực tế chứ không theo một định luật nào cả.
Ví dụ: trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách cho nhân dân vùng cao, đồng bào dân tộc thiểu số, đó là công việc rất khó khăn vì không phải người dân nào cũng biết chữ để đọc các quy định của pháp luật nên phải tùy vào tình hình thực tế để cán bộ công chứ phải học tiếng của đồng bào thiểu số hoặc biên soạn các quy định thành tiếng dân tộc cho người đồng bào có thể hiểu rõ
Thứ tư, hình thành tập thể lao động tốt
Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước bản thân đã hình thành nên tập thể lao động do sự phối hợp hoạt động theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: trong việc giải quyết văn bản đến cơ quan, bộ phận văn thư phải phân loại sơ bộ sau đó vào sổ lưu rồi gửi đến các phòng ban chuyên môn, tuy nhiên trước đó phải được trình đến Chánh văn phòng, trưởng phòng hành chính hoặc thủ trưởng cơ quan.
Trong hoạt động của người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước trên thực tế sẽ hình thành nên tập thể lao động thông qua cách thức giao tiếp cũng như phối hợp giữa các cá nhân cũng như các bộ phận với nhau từ đó hình thành nên tập thể lao động thống nhất trong cơ quan.
Thứ năm, Hoạt động lao động trong cơ quan hành chính nhà nước mang tính liên đới cao:
Về trách nhiệm: một quyết định quản lý được ban hành sẽ liên đới trách nhiệm tới nhiều người;
Về hệ quả: các tổ chức, cá nhân là những đối tượng nằm trong diện ảnh hưởng khi một quyết định được ban hành.
Ví dụ: Quyết định điều chỉnh khung xử phạt đối với người tham gia giao thông vi phạm luật giao thông. Nếu khung xử phạt không mang lại hiệu quả thậm chí gây cản trở hoạt động của chủ thể cũng như đối tượng quản lý thì chủ thể ban hành phải chịu trách nhiệm theo quy định. Bên cạnh đó, đối tượng ảnh hưởng sẽ là toàn bộ những người tham gia giao thông trong phạm vi lãnh thổ quốc gia không phân biệt người trong nước hay ngoài nước.
Thứ sáu, các biểu hiện khác
Một quyết định quản lý hành chính ban hành phải đảm bảo hai yêu cầu hợp pháp và hợp lý.
Cán bộ công chức thường là đối tượng đầu tiên được so sánh, đánh giá trong xã hội về: tiền lương, mức sống, đạo đức, chế độ làm việc, nghỉ ngơi…
3.    Kết luận
Lao động trong cơ quan hành chính nhà nước là lao động do những người làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện.

Hoạt động lao động trong cơ quan hành chính nhà nước mang nhiều đặc trưng, trong đó cần phải kể đến đặc trưng tâm lý – xã hội. Đặc trưng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: lao động trong cơ quan hành chính nhà nước là lao động trí óc, đối tượng quản lý là con người... và đặc trưng này còn được thể hiện trong quy định của pháp luật và được thể hiện rõ nét trên thực tế.

Nhóm sinh viên lớp KH10NS1 thực hiện.

Nhận xét