Câu 1: Cơ sở
hình thành và thành tựu cơ bản của văn minh Ai Cập
1. Cơ sở hình thành:
Ai Cập nằm ở Đông Bắc Châu Phi, hạ lưu
sông Nin. Sông Nin là một con sông dài nhất thế giới, khoảng 6500 km chảy từ Trung
Phi lên Bắc Phi. Hàng năm, tới mùa mưa nước sông Nin cuồn cuộn đỏ phù sa bồi
đắp cho những cánh đồng ở hạ lưu sông Nin. Đất đai màu mỡ, cây cỏ tốt tươi, các
loài động thực vật phong phú, nên ngay từ thời nguyên thuỷ con người đã tập
trung sinh sống ở đây đông hơn các khu vực xung quanh.
Tới cách ngày nay khoảng 6000 năm, con
người ở đây đã biết sử dụng những công cụ, vũ khí bằng đồng. Công cụ bằng đồng
giúp con người ở đây chuyển sang sống chủ yếu nhờ nghề nông, thoát khỏi cuộc
sống săn bắn, hái lượm và sớm bước vào xã hội văn minh. Chính vì vậy mà cách
đây hơn 2000 năm trước, một nhà sử học Hy Lạp là Hêrôđôt tới thăm Ai Cập đã có
một nhận xét rất hay là “ Ai Cập là tặng phẩm của sông Nin”.
Về mặt dân cư, những cư dân cổ nhất ở lưu vực
sông Nin là những thổ dân Châu Phi hình thành trên cơ sở hỗn hợp nhiều bộ lạc.
Sau này, một số bộ tộc Hamit (Hamites) từ Tây Á xâm nhập hạ lưu sông Nin. Trải
qua một quá trình hỗn hợp lâu dài giữa người Hamit và thổ dân Châu Phi đã hình
thành ra những tộc người Ai Cập cổ đại.
Các thời kì lịch sử chính của Ai Cập cổ đại : Lịch sử Ai Cập cổ đại có thể chia ra
làm 5 thời kì chính sau :
• Thời kì
TảoVương quốc ( khoảng 3200 - 3000 năm TCN )
• Thời kì
Cổ Vương quốc ( khoảng 3000 - 2200 năm TCN )
• Thời kì
Trung Vương quốc ( khoảng 2200 - 1570 năm TCN )
• Thời kì
Tân Vương quốc ( khoảng 1570 - 1100 năm TCN )
• Thời kì
Hậu Vương quốc ( khoảng 1100 - 31 năm TCN )
2. Thành tựu cơ bản:
a) Chữ viết:
Khoảng hơn 3000 nămTCN, người Ai Cập cổ đại đã sáng tạo ra chữ tượng hình .
Muốn chỉ một vật gì thì họ vẽ những nét tiêu biểu của sự vật đó. Để diễn tả
những khái niệm trừu tượng thì họ mượn ý. Thí dụ để diễn tả trạng thái khát thì
họ vẽ ba làn sóng nước và cái đầu bò đang cúi xuống;
để nói lên sự công bằng thì họ vẽ lông chim đà điểu ( vì lông đà
điểu hầu như dài bằng nhau ).
Từ chữ tượng hình, sau này người Ai Cập cổ đại đã hình thành ra
hệ thống 24 chữ cái. Vào thiên niên kỉ II TCN, người Híchxốt đã học cách viết
của người Ai Cậpđể ghi lại các ngôn ngữ của mình. Về sau này, loại chữ viết ấy
lại ít nhiều ảnh hưởng tới người Phênixi và người Phênixi đã sáng tạo ra vần
chữ cái A , B ...Những chữ tượng hình của người Ai Cập được khắc trên đá, viết
trên da, nhưng nhiều nhất là được viết trên vỏ cây sậy papyrus. Đây là một loại
“giấy” cổ xưa nhất, do vậy ngôn ngữ nhiều nước trên thế giới, giấy được gọi là
papes, papier ...Năm 1822, một nhà ngôn ngữ học người Pháp là Sampôliông (
Champollion ) đã tìm cách đọc được thứ chữ này.
b) Về văn học: những tác phẩm tiêu biểu còn lại như Truyện hai anh em, Nói
Thật và Nói Láo, Đối thoại của một người thất vọng với linh hồn của mình ,
Người nông phu biết nói những điều hay ...
c) Tôn giáo :
Người Ai Cập cổ đại theo đa thần giáo, họ thờ rất nhiều thần. Ban đầu, mỗi vùng
thờ mỗi vị thần riêng của mình, chủ yếu là những vị thần tự nhiên. Đến thời kì
thống nhất quốc gia, bên cạnh những vị thần riêng của mỗi địa phương còn có các
vị thần chung như thần Mặt trời ( Ra ), thần sông Nin (Osiris ).
Người Ai Cập cổ tin rằng con người có hai phần : hồn và xác. Khi
con người chết đi, linh hồn thoát ra ngoài nhưng có thể một lúc nào đó lại tìm
về nơi xác ( Họ tin rằng như khi bị ngất , hồn thoát ra ngoài tạm thời ). Vì
vậy những người giàu có tìm mọi cách để giữ gìn thể xác. Kĩ thuật ướp xác vì
vậy cũng rất phát triển.
d) Kiến trúc điêu khắc : Người Ai Cập cổ đại đã xây dựng rất nhiều đền đài, cung
điện, nhưng nổi bật nhất phải kể đến là các kim tự tháp hùng vĩ, vĩnh cửu.
Người thiết kế ra Kim tự tháp đầu tiên để làm nơi yên nghỉ cho các pharaon là
Imhotép. Người ta đã phát hiện ra khoảng 70 Kim tự tháp lớn nhỏ khác nhau trong
đó có 3 Kim tự tháp nổi tiếng nằm ở gần thủ đô Cairo. Lớn nhất là Kim tự
tháp Kêôp ( Kheops ) cao tới 146m, đáy hinh vuông , mỗi cạnh tới 230m. Đã mấy
ngàn năm qua các Kim tự tháp vẫn sừng sững với thời gian. Vì vậy người Ai Cập
có câu “ Tất cả mọi vật đều sợ thời gian, nhưng riêng thời gian phải nghiêng
mình trước Kim tự tháp”. Ngoài việc xây dựng các lăng mộ, người Ai Cập cổ còn
để lại ấn tượng cho đời sau qua các công trình điêu khắc. Đặc biệt nhất là
tượng Nhân Sư (Sphinx ) hùng vĩ ở gần Kim tự tháp Khephren. Bức tượng mình sư
tử với gương mặt Khephren cao hơn 20m này có lẽ muốn thể hiện Khephren là chúa
tể với trí khôn của con người và sức mạnh của sư tử.
e) Khoa học tự nhiên :
Về thiên văn:
người Ai Cập cổ đã vẽ được bản đồ sao, họ đã xác định 12 cung hoàng đạo và sao
Thuỷ,Kim, Hoả, Mộc, Thổ. Người Ai Cập cổ làm ra lịch dựa vào sự quan sát sao
Lang ( Sirius ). Một năm của họ có 365 ngày, đó là khoảng cách giữa hai lần họ
thấy sao Lang xuất hiện đúng đường chân trời. Họ chia một năm làm 3 mùa, mỗi
mùa có 4 tháng, mỗi tháng có 30 ngày. Năm ngày còn lại được xếp vào cuối năm
làm ngày lễ. Để chia thời gian trong ngày, họ đã chế ra đồng hồ mặt trời và
đồng hồ nước.
Về toán học:
do yêu cầu làm thuỷ lợi và xây dựng nên kiến thức toán học của người Ai Cập cổ
cũng sớm được chú ý phát triển. Họ dùng hệ đếm cơ số 10. Họ rất thành thạo các
phép tính cộng trừ, còn khi cần nhân và chia thì thực hiện bằng cách cộng trừ
nhiều lần. Về hình học, họ đã tính được diện tích của các hình hình học đơn
giản; đã biết trong một tam giác vuông thì bình phương cạnh huyền bằng tổng
bình phương hai cạnh góc vuông. Pi của họ tính = 3,14 .
Về Y học:
người Ai Cập cổ đã chia ra các chuyên khoa như khoa nội, ngoại , mắt, răng, dạ
dày ... Họ đã biết giải phẫu và chữa bệnh bằng thảo mộc.
Câu 2:
Quá trình hình thành đạo Hồi , Ảnh hưởng của Việt Nam?
a) Quá trình hình thành Đạo Hồi
Hồi giáo là một tôn giáo lớn được sang lập vào thời trung đại và
nhanh chóng trở thành niềm phấn khích của các đại đế chế. Điểm khởi đầu là tại
bán đảo Arập mà người sáng lập ra là Muhammad
Theo truyền thuyết vào năm 610 Muhammad nhìn thấy một thiên sứ
và nói với ông rằng phải vâng theo vị thần linh duy nhất là Đấng Allah “Đấng
dạy cho con người những điều chưa biết”. Từ đó ông đã nhận ra sứ mệnh của mình
là truyền giảng tư tưởng đơn thuần. Sự ra đời của Hồi giáo đã làm giảm sút sự
ảnh hưởng của các thương gia giàu có nhờ quyền bán ảnh tượng (Ảnh tượng các vị
thần trong đền thánh mécca) mà người dân đang tôn sung, vì thế đã xó những âm
mưu hãm hại Muhammad, biết được điều đó Muhammad đã phải lánh khỏi Mecca năm
622. Tuy nhiên chính nhờ chuyến đi này mà giáo thuyết của ông đã tỏa rạng và
đánh dấu cho sự mở đầu cả Hồi giáo, Tín đồ Hồi giáo đã lấy năm 622 là năm thứ
nhất của lịch Hồi giáo
Cuộc lánh nạn của Muhammad đã trở thành huyền thoại, ông thu
phục tín đò trên đường lánh nạn, chỉ trong vòng 10 năm từ người trốn tránh kẻ
thù nghịch Muhammad trở thành lành tụ tôn giáo có nhiều tín đồ.
b) Ảnh hưởng của Đạo Hồi tới Việt Nam
………………….
Câu 3
Những thành tựu cơ bản của văn minh Ấn Độ thời cổ trung đại:
a) Chữ viết: Thời đại
Harappa-Môhenjô Đarô, ở miền Bắc Ấn đã xuất hiện một loại chữ cổ mà ngày nay
người ta còn lưu giữ được khoảng 3000 con dấu có khắc những kí hiệu đồ hoạ. Thế
kỉ VII TCN, ở đây đã xuất hiện chữ Brami, ngày nay còn khoảng 30 bảng đá có
khắc loại chữ này. Trên cơ sở chữ Brami, thế kỉ V TCN ở Ấn Độ lại xuất hiện chữ
Sanscrit, đây là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở Ấn Độ và Đông Nam Á sau này.
b) Văn học:
Ấn Độ là nước có nèn văn học rất phát triển, gồm có 2 bộ phận chính là Vê đa và
sử thi, tuy nhiên nổi bật hơn cả là sử thi với hai tác phẩm văn học nổi bật
thời cổ đại là Mahabharata và Ramayana. Mahabharata là bản trường ca gồm 220
000 câu thơ. Bản trường ca này nói về một cuộc chiến tranh giữa các con cháu
Bharata. Bản trường ca này có thể coi là một bộ “bách khoa toàn thư” phản ánh
mọi mặt về đời sống xã hội Ấn Độ thời đó. Ramayana là một bộ sử thi dài 48 000
câu thơ, mô tả một cuộc tình giữa chàng hoàng tử Rama và công chúa Sita. Thiên
tình sử này ảnh hưởng tới văn học dân gian một số nước Đông Nam Á. Riêmkê ở
Campuchia, Riêmkhiêm ở Thái Lan chắc chắn có ảnh hưởng từ Ramayana.
Thời cổ đại ở Ấn Độ còn có tâp ngụ ngôn Năm phương pháp chứa
đựng rất nhiều tư tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc Á-Âu.
c) Nghệ thuật: Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực rỡ, ảnh
hưởng tới nhiều nước Đông Nam Á. Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục vụ
một tôn giáo nhất định, do yêu cầu của tôn giáo đó mà thể hiện. Có thể chia ra
ba dòng nghệ thuật: Hinđu giáo, Phật giáo, Hồi giáo. Có rất nhiều chùa tháp
Phật giáo, nhưng đáng kể đầu tiên là dãy chùa hang Ajanta ở miền
trung Ấn Độ. Đây là dãy chùa được đục vào vách núi, có tới 29 gian chùa, các
gian chùa thường hình vuông và nhiều gian mỗi cạnh tới 20m. Trên vách hang có
những bức tượng Phật và nhiều bích hoạ rất đẹp.
Các công trình kiến trúc Hinđu giáo được xây dựng nhiều nơi trên
đất Ấn Độ và được xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ VII - XI. Tiêu biểu cho các
công trình Hinđu giáo là cụm đền tháp Khajuraho ở Trung Ấn, gồm tất cả 85 đền
xen giữa những hồ nước và những cánh đồng.
Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina,
được xây dựng vào khoảng thế kỉ XIII và lăng Taj Mahan được xây dựng vào khoảng
thế kỉ XVII.
d) Khoa học tự nhiên:
- Về
Thiên văn: người Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia một năm ra làm 12 tháng,
mỗi tháng có 30 ngày. ( Như vậy năm bình thường có 360 ngày ). Cứ sau 5 năm thì
họ lại thêm vào một tháng nhuận.
- Về Toán học: Người Ấn Độ thời cổ đại chính là chủ nhân của hệ
thống chữ số mà ngày nay ta quen gọi là số Arập. Đóng góp lớn nhất của họ là
đặt ra số không, nhờ vậy mọi biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn
lên. (Người Tây Âu vì vậy mà từ bỏ số La Mã mà sử dụng số Arập trong toán học.)
Họ đã tính được căn bậc 2 và căn bậc 3; đã có hiểu biết về cấp số, đã biết về
quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác. Pi = 3,1416.
- Về vật lý: Người Ấn Độ cổ đại cũng đã có thuyết
nguyên tử. Thế kỉ V TCN, có một nhà thông thái ở Ấn Độ đã viết “...trái đất, do
trọng lực của bản thân đã hút tất cả các vật về phía nó”.
- Y học: cũng khá phát triển. Người Ấn Độ cổ đại đã
mô tả các dây gân, cách chắp ghép xương sọ, cắt màng mắt, theo dõi quá trình
phát triển của thai nhi. Họ để lại hai quyển sách là “ Y học toát yếu” và “
Luận khảo về trị liệu”.
Câu 4:
Sự hình thành và phát triển của đạo Phật thời cổ trung đại, phân
tích ảnh hưởng tích cực của Đạo phật đối với xh Việt Nam hiện nay.
a) Sự hình thành và phát triển của đạo Phật
- Sự hình thành: Đạo Phật ra đời vào khoảng giữa thiên niên kỉ I TCN do thái tử
Xitđacta Gôtama, hiệu là Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) khởi xướng. Các tín đồ
Phật giáo lấy năm 544 TCN là năm thứ nhất theo Lịch Phật, họ cho là đây là năm
Đức Phật nhập niết bàn. (Vì vậy, những người châu Á theo đạo Phật trước kia vẫn
để ý đến ngày qua đời hơn ngày ra đời, khác hẳn những người theo đạo Thiên
chúa).
- Sự phát triển: Sauk hi ra đời đạo Phật nhanh chóng được truyền bá ở miến
Bắc Ấn Độ. Để soạn thảo giáo lý, quy chế và chấn chỉnh về tổ chức từ thé kỷ thứ
V – III TCN đạo Phật đã riệu tập 3 cuộc Đại hội từ đó đạo Phật được truyền sang
Xrilanca, rồi đến các nước khác như Myanma, Thái Lan, Indolexia…
Khoảng năm 100 sau CN đạo Phật triệu tập đại hội lần 4 ở Cusan,
Đại hội đã thông qua giáo lý của đạo Phật cải cách, xuất hiện phái phật giáo
mới gọi là phái Đại thừa để phân biệt với phật giáo cũ là phái Tiểu thừa
Sau Đại hội lần 4 ở Cusan các nhà sư càng được khuyến khích ra
nước ngoài truyền Đạo, do đó đạo Phật càng được truyền bá mạnh mẽ sang các nước
Trung Á, Trung Quốc. Những thế kỷ tiếp sau đó Phật giáo suy dần ở Ấn Độ song
lại phát triển mạnh ở các nước và nó đã trở thành quốc giáo của một số nước:
Xrilanca, Thái Lan, Campuchia, Lào…
b) Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo đến xã hội
Việt Nam hiện nay.
Với vai trò, chức năng và những giá trị nhân văn sâu sắc của
mình, Phật giáo trở thành chỗ dựa trong đời sống văn hóa, tinh thần của một bộ
phận quần chúng. Các chuẩn mực của đạo đức Phật giáo có tác dụng điều chỉnh
hành vi, nhân cách con người, ảnh hưởng tích cực đến quần chúng.
Với tư tưởng từ bi, cứu khổ cùng với các giá trị đạo đức của
Phật giáo đã có ảnh hưởng không ít tới môi trường sống của người dân, bởi vì
đạo Phật là tiếng nói của một con người gửi tới những con người khác, để cùng
giúp nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Vì thế, đạo Phật mang tính
xã hội và đạo đức rất cao. Phật giáo không chỉ dừng lại ở công việc chia sẻ
những khó khăn của xã hội như hòa bình, thịnh vượng, công bằng, mà còn hướng
mọi người lấy điều thiện làm chuẩn mực sống, làm phương tiện và mục đích để đạt
tới hạnh phúc cho con người. Như hiện nay trong làm ăn kinh tế, một số người vì
sự lôi cuốn của đồng tiền muốn làm ít hường nhiều, muốn làm giàu nhanh chóng,
đã bất chấp thủ đoạn, coi thường pháp luật chà đạp nghiêm trọng tới đạo đức,
lối sống truyền thống. Với quan niệm tiêu dùng của cải vật chất hợp lý, không
quá coi trọng tài sản đến mức trở thành nô lệ của nó, không ăn của người, cuộc
sống an vui giải thoát chỉ đạt được khi con người đạt được chân thiện mỹ, hạnh
phúc của người này có được không phải bằng cách giẫm đạp lên hạnh phúc của
người khác, phải đem an vui đến cho mọi người, Phật giáo đã phần nào tác động
tốt tới nhân cách, lối sống các tín đồ.
Cũng có thể thấy rằng những giáo lý của phật giáo khá đồng thuận
với tư tưởng xã hội chủ nghĩa, nên việc phật giáo được Đảng và nhà nước quan
tâm là điều tất yếu.
Câu 5
Điều kiện hình thành những thành tựu cơ bản của văn minh Trung
Quốc thời cổ trung đại?
Lãnh thổ Trung Quốc ngày nay rộng mênh mông nhưng Trung Quốc
thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ nhiều. Địa hình Trung Quốc đa dạng, phía Tây có
nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ
phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp.
Trong hàng ngàn con sông lớn nhỏ ở Trung Quốc, có hai con sông
quan trọng nhất là Hoàng Hà và Trường Giang (Dương Tử). Hai con sông này đều
chảy theo hướng tây-đông và hàng năm đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng
ở phía đông Trung Quốc.
Trung Quốc gồm nhiều dân tộc nhưng đông nhất là người Hoa-Hạ.
Người Hoa ngày nay tự cho tổ tiên họ gổc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh
Thiểm Tây và sông Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay.(Dân núi Hoa sông Hạ). Trong
gần 100 dân tộc hiện sinh sống trên đất Trung Quốc ngày nay, có 5 dân tộc đông
người nhất là Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng.
Những điều kiện về địa hình và dân cư đó đã hình thành cho thế
giới một nền văn minh mới, đó là văn minh Trung Quốc với rất nhiều thành tựu.
Câu 6
Những thành tựu cơ bản của Văn minh Trung Quốc thời cỏ
trung đại. từ ảnh hưởng đó đến sự phát triển của văn minh thế giới.
1) Những thành tựu cơ bản của văn minh Trung Quốc:
a) Chữ viết:
Từ đời nhà Thương, người Trung Hoa đã có chữ Giáp cốt được viết trên mai rùa,
xương thú, được gọi là Giáp cốt văn. Qua quá trình biến đổi, từ Giáp cốt văn
hình thành nên Thạch cổ văn, Kim văn. Tới thời Tần, sau khi thống nhất Trung
Quốc, chữ viết cũng được thống nhất trong khuôn hình vuông được gọi là chữ Tiểu
triện.
b) Văn học:
Trung Quốc có nền văn học rất phong phú đó là nhờ vào chế độ thi cử và việc văn
chương trở thành thước đo của tri thức. Các thể loại tiêu biểu: Thơ,Từ, Phú,
Kịch, tiểu thuyết…trong đó tiêu biểu nhất là Kinh thi, Thơ Đường và Tiểu thuyết
Minh - Thanh
Kinh thi là tập thơ cổ nhất ở Trung Quốc do nhiều tác giả sáng
tác thời Xuân-Thu, được Khổng tử sưu tập và chỉnh lí. Kinh thi gồm có 3 phần:
Phong, Nhã, Tụng.
Thơ Đường là thời kì đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc. Trong
hàng ngàn tác giả nổi bật lên ba nhà thơ lớn đó là Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.
Tới thời Minh-Thanh, tiểu thuyết lại rất phát triển với các tác
phẩm tiêu biểu như: Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Thuỷ hử của Thi
Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa Ân, Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu
Mộng của Tào Tuyết Cần...trong đó Hồng lâu mộng được đánh giá là tiểu thuyết có
giá trị nhất.
c) Sử học:
Người Trung Hoa thời cổ rất có ý thức về biên soạn sử. Nhiều nước thời Xuân-Thu
đã đặt các quan chép sử. Trên cơ sở quyển sử nước Lỗ, Khổng Tử đã biên soạn ra
sách Xuân Thu.
Tới thời Hán, Tư Mã Thiên là một nhà viết sử lớn đã để lại tác
Phẩm Sử kí, chép lại lịch sử Trung Quốc gần 3000 năm, từ thời Hoàng Đế đến thời
Hán Vũ Đế.
Tới thời Đông Hán, có các tác phẩm Hán thư của Ban Cố, Tam quốc
chí của Trần Thọ, Hậu Hán thư của Phạm Diệp.
Tới thời Minh-Thanh, các bộ sử như Minh sử, Tứ khố toàn thư là
những di sản văn hoá đồ sộ của Trung Quốc.
d) Khoa học tự nhiên
Toán học: Người Trung Hoa đã sử dụng hệ đếm thập phân từ rất
sớm. Thời Tây Hán đã xuất hiện cuốn Chu bễ toán kinh, trong sách đã
có nói đến quan niệm về phân số, về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác
vuông.
Thời Đông Hán, đã có cuốn Cửu chương toán thuật, trong sách này
đã nói đến khai căn bậc 2, căn bậc 3, phương trình bậc1, đã có cả khái niệm số
âm, số dương.
Thời Nam-Bắc triều có một nhà toán học nổi tiếng là Tổ Xung Chi,
ông đã tìm ra số Pi xấp xỉ 3,14159265, đây là một con số cực kì chính xác so
với thế giới hồi đó.
- Thiên văn học: Từ đời nhà Thương, người Trung Hoa đã vẽ
được bản đồ sao có tới 800 vì sao. Họ đã xác định được chu kì chuyển động gần
đúng của 120 vì sao. Từ đó họ đặt ra lịch Can-Chi. Thế kỉ IV TCN, Can Đức đã
ghi chép về hiện tượng vết đen trên Mặt trời. Thế kỉ II, Trương Hành đã chế ra
dụng cụ để dự báo động đất.
Năm 1230, Quách Thủ Kính (đời Nguyên) đã soạn ra cuốn Thụ thời
lịch, xác định một năm có 365,2425 ngày. Đây là một con số rất chính xác so với
các nhà thiên văn Châu Âu thế kỉ XIII.
- Y dược học: Thời Chiến Quốc đã có sách Hoàng đế nội kinh được
coi là bộ sách kinh điển của y học cổ truyền Trung Hoa. Thời Minh có cuốn Bản
thảo cương mục của Lí Thời Trân. Cuốn sách này được dịch ra chữ Latinh và
được Darwin coi đây là bộ bách khoa về sinh vật của người Trung Quốc
thời đó. Đặc biệt là khoa châm cứu là một thành tựu độc đáo của y học Trung
Quốc.
e) Hội họa, điêu khắc, kiến trúc
- Hội hoạ: Hội hoạ Trung Quốc có lịch sử 5000 - 6000 năm
với các loại hình: bạch hoạ, bản hoạ, bích hoạ. Đặc biệt là nghệ thuật vẽ tranh
thuỷ mạc, có ảnh hưởng nhiều tới các nước ở Châu Á. Cuốn Lục pháp luận của Tạ
Hách đã tổng kết những kinh nghiệm hội hoạ từ đời Hán đến đời Tuỳ.
- Điêu khắc: Ở Trung Quốc cũng phân thành các ngành riêng như:
Ngọc điêu, thạch điêu, mộc điêu. Những tác phẩm nổi tiếng như cặp tượng Tần
ngẫu đời Tần, tượng Lạc sơn đại Phật đời Tây Hán ( pho tượng cao nhất thế giới
), tượng Phật nghìn mắt nghìn tay.
- Kiến trúc: Cũng có những công trình rất nổi tiếng như Vạn lí
trường thành ( tới 6700 km ), Thành Tràng An, Cố cung, Tử cấm thành ở Bắc Kinh.
2. Ảnh hưởng đó tới sự phát triển văn minh thế giới:
………….
Câu 7
Bốn phát minh lớn về KHKT của Trung Quốc thời cổ trung đại và ý
nghĩa của nó:
Thời trung đại Trung Quốc có 4 phát minh lớn rất quan trọng đó
là: Giấy, kĩ thuật in, thuốc súng và kim chỉ nam.
a) Kĩ thuật làm giấy:
- Thời Tây Hán, người Trung Quốc vẫn dung thẻ tre, lụa để ghi
chép. Đến khoảng thế kỷ II, mặc dù đã biết dung phương pháp xơ gai để làm giấy,
tuy nhiên giấy thời kỳ này còn xấu, mặt không phẳng , khó viết nên chỉ dung để
gói.
- Đến thời Đông Hán, năm 105 một người tên Thái Luân đã dung vỏ
cây, lưới cũ, rẻ rách…làm nguyên liệu, đồng thời đã cải tiến kỹ thuật, nên đã
làm được loại giấy có chất lượng tốt. Từ đó giấy được dung để viết 1 cách phổ
biến thay thế cho các vật liệu trước đó.
- Từ thế kỷ III nghề làm giấy được truyền sang
Việt Nam và sau đó được tryền đi hầu khắp các nước trên thế giới.
b) Kĩ thuật in:
- Từ giữa thế kỷ VII kĩ thuật in giấy đã xuất hiện. Khi mới ra
đời là in bằng ván sau đó có một người dân tên Tất Thăng đã phát minh ra cách
in chữ rời bằng đất sét nung đã hạn chế được nhược điểm của cách in bằng ván.
Tuy nhiên cách in này vẫn còn hạn chế nhất định: chữ hay mòn, khó tô mực. Sau
đó đã có một số người tiến hành cải tiến nhưng ko được, đến thời Nguyên, vương
Trinh mới cải tiến thành công việc dùng chữ rời bằng gỗ.
- Từ khi ra đời kĩ thuật in cũng đã được truyền bá rộng rãi ra
các nước khác trê thế giới. Cho đến năm 1448, Gutenbe người Đức đã dùng chữ rời
bằng kim loại, nó đã làm cơ sở cho việc in chữ rời bằng kim loại ngày nay.
c) Thuốc súng:
Thuốc súng là phát minh ngẫu nhiên của những người luyện đan,
cho đến thế kỷ X thuốc súng bắt đầu được dùng làm vũ khí. Sau đó qua quá trình
sử dụng nó đã được cải tiến rất nhiều với nhiều tên gọi khác nhau. Và trong quá
trình tấn công Trung Quốc người Mông cổ đã học được cách làm thuốc súng và từ
đó lan truyền sang Tây Á rồi đến châu Âu.
d) Kim chỉ nam.
Từ thế kỷ III TCN người Trung Quốc đã phát minh ra “Tư nam” đó
là một dụng cụ chỉ hướng. Sau đó các thầy phong thủy đã phát minh ra kim nam
châm nhân tạo, đầu tiên la bàn được dùng để xem hướng đất rồi mới được sử dụng
trong việc đi biển. Nửa sau thế kỷ XII la bàn được truyền sang Arập ròi sang
châu Âu
2. Ý nghĩa:
Đối với trung quốc bốn phát minh trên ra đời không chỉ trực tiếp
giúp cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của con người Trung Quốc, mà đó
còn là những đóng góp không nhỏ của một nền văn minh cho toàn nhân loại.
Đối với thế giới sự ra đời của kĩ thuật làm giấy, kĩ thuật in,
thuốc súng và kim chỉ nam đã nâng cao được vị thế của loài người, đưa nhân loại
tiến lên một bước trong quá trình chinh phục tự nhiên và tranh đấu với tự nhiên
với chính con người để sinh tồn và phát triển.
Câu 8
Quá trình hình thành tư tưởng nho giáo và phân tích những đặc
điểm chính của tư tưởng này. Nêu ảnh hưởng của nho giáo trong đời sống xã hội
Việt Nam hiện nay.
1. Quá trình hình thành tư tưởng nho giáo và phân tích những đặc
điểm của tư tưởng này.
a) Quá trình hình thành
Nho gia là trường phái tư tưởng quan trọng nhất ở Trung Quốc.
Người đặt cơ sở đầu tiên của Nho gia là Khổng tử. Nho gia đề cao chữ nhân, chủ
trương lễ trị, phản đối pháp trị. Nho gia đề cao Tam cương, Ngũ thường, cùng
với tư tưởng Chính danh định phận và đề cao tư tưởng Thiên mệnh. Giá trị quan
trọng nhất trong tư tưởng của Khổng Tử là về giáo dục. Ông chủ trương dạy học
cho tất cả mọi người.
Tiếp sau Khổng Tử là Mạnh Tử người kế thừa và phát triển học
thuyết Nho gia them một bước
Tới thời Hán Vũ Đế (140-87 TCN), chấp nhận đề nghị của Đổng
Trọng Thư, Hán Vũ Đế đã ra lệnh “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, Nho
gia đã được đề cao một cách tuyệt đối và nâng lên thành Nho giáo.
b) Đặc điểm của Nho giáo
…………………………………………………
Câu 9
Điều kiện hình thành nền văn minh khu vực Đông nam Á và những
thành tựu cơ bản của nền văn minh đó, Việt Nam đã có những đóng góp
gì cho nền văn minh khu vực
1. Điều kiện hình thành nền văn minh khu vực ĐNA
a) Điều kiện tự nhiên của ĐNA thuận lợi cho những bước đi đầu
tiên của con người. Vì thế có thể hiểu được tại sao con người đã có mặt ở vùng
đất ày từ rất xa xưa. Cùng sinh tụ trên một khu vực địa lý, cư dân ĐNA đã sang
tạo ra một nền văn hóa bản địa có cội nguồn chung từ thời tiền sử và sơ sử
trước khi tiếp súc với văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ. Theo những vật chứng để lại
nhờ sự phát hiện của các nhà khảo cổ có thể thấy Văn hóa ĐNA cũng đã trải qua
rất nhiều giai đoạn phát triển khác nhau và rồi dần hình thành lên một nền văn
minh mới của nhân loại.
b) Sự hình thành các quốc gia ĐNA còn gắn liền với việc tiếp thu
ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và văn hóa Ấn Độ. Những ảnh hưởng này là khá tòa
diện và sâu sắc, cả về chữ viết, văn chương, tôn giáo, nghệ thuật kiến trúc và
điêu khắc. Sự tiếp thu đó qua các con đường khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là
thông qua hoạt động thông thương và việc xâm chiếm. Tuy phải chịu ảnh hưởng khá
sâu sắc của hai nền văn hóa lớn song ĐNA vẫn là ĐNA một khu vực được coi là
“Châu Âu giáo mùa” cũng có những bản sắc và những thành tựu riêng biệt mang đậm
chất ĐNA
2. Những thành tựu cơ bản của nền văn minh ĐNA
Cư dân ĐNA lấy sản suất nông nghiệp lúa nước làm phương thức
hoạt động kinh tế chủ yếu. Do đó không chỉ có những nét tương đồng về canh tác
và hệ thồng thủy lợi, mà đến các phong tục tập quán ít nhiều cũng chịu ảnh
hưởng của của nền nông nghiệp lúa nước.
a) Trước khi các tôn giáo được truyền bá vào ĐNA, cư dân nơi đây
đã dùng thuyết “vạn vật hữu linh” để chỉ tất cả những hình thức tín ngưởng.
Trong đó sớm nhất là bái vật giáo với những ý niệm về sức mạnh siêu nhiên của
tự nhiên.
Quan niệm “vạn vật hữu linh” đã tồn tại trong các tín ngưỡng dân
gian và có tác động không nhỏ đến các tôn giáo được truyền bá vào và một phần
làm biến dạng nó, biến nó thành cái của mình: như Ăng co vát ở Campuchia, Bánh
xe luân hồi bằng đá ở Thái Lan,
b) Khác với văn hóa chữ viết của người Hán và Ấn Độ, văn hóa cư
dân nông nghiệp ĐNA tắm mình trong nền văn hóa dân gian. Tín ngưỡng, lễ
hội gắn liền với chu ký nông nghiệp, thờ cúng tổ tiên. Cơ cấu của lễ hội bao
gồm hai phần đó là Lễ và Hội đan xen hòa quyện vào nhau rất khăng khít, Ngoài
ra lễ hội khu vực ĐNA còn mang tính chất thống nhất cao như Tết cổ truyền ở các
nước đều có với hình thức gần giống nhau và thời điểm cũng tương đương nhau.
c) Qua các văn bia người ta biết rằng ĐNA cổ xưa đã sử dụng chữ
viết đươc du nhập từ Ấn Độ là chính. Tuy nhiên trong quá trình lịch sử lâu dài
việc sang tạo ra chữ viết và quá trình cải tiến nó của các cư dân ĐNA không
phải là một sự bắt chước đơn giản mà là cả một quá trình công phu và sang tạo,
một thành tựu đáng kể về văn hóa của khu vực.
Nền văn học dân gian của các dân tộc ĐNA cũng rất phong phú và
đa dạng về thể loại đó là những truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ
tích, truyện cười, ngụ ngôn, truyện trạng…mặc dù có chịu ảnh hưởng của văn học
Hán và Ấn Độ song văn học ĐNA vẫn mang được bản sắc riêng.
Ngoài ra văn hóa ĐNA còn rất nhiều bản sắc riêng biệt nữa như:
Chiếc nhà sàn, Thích múa hát tập thể, hát đối…
3. Việt Nam đã có những đóng góp gì cho nền văn minh khu vực?
…………………
Câu 10
Điều kiện hình thành nền văn minh Hy Lạp – La Mã và những thành
tựu cơ bản của nền văn minh Hy Lạp – La Mã cổ đại.
1. Diều kiện hình thành nền văn minh Hy Lạp – La Mã
a) Điều kiện hình thành nền văn minh Hy Lạp
* Địa lý và dân cư:
- Vùng đất của thế giới Hy Lạp cổ đại lớn hơn nước Hy Lạp ngày
nay rất nhiều, nó gồm miền Nam bán đảo Bancăng (Balkans), các đảo trên biển
Êgiê (Aegean) và phía tây Tiểu Á. Trung tâm của thế giới Hy Lạp cổ đại nằm ở
phía nam bán đảo Bancăng.
- Đất đai Hy Lạp không được phì nhiêu, không thuận lợi cho việc
trồng cây lương thực, địa hình lại còn bị chia cắt thành nhiều vùng đồng bằng
nhỏ hẹp. Nhưng bù lại, Hy Lạp có nhiều vũng, vịnh, thuận lợi cho việc lập những
hải cảng. Ở đây còn có nhiều khoáng sản lại tương đối dễ khai thác như đồng,
vàng, bạc...Chính vì vậy, kinh tế Hy Lạp cổ đại chú trọng phát triển về công,
thương nghiệp hơn nông nghiệp, nhất là buôn bán đường biển. Đặc điểm này của
kinh tế cũng làm cho nền văn minh Hy Lạp cổ tuy phát triển sau văn minh Ai Cập
cố, nhưng những lái buôn Hy Lạp trong quá trình ngang dọc trên Địa Trung Hải
cũng học được nhiều điều hay từ Ai Cập và Lưỡng Hà.
- Về dân cư, dân Hy Lạp cổ đại gồm nhiều tộc người như người
Êôliêng (Eolien), Akêăng (Acheen), Đôriêng (Dorien)...Lúc đầu các tộc người này
đều gọi theo tên riêng từ thời bộ lạc của mình, tới thế kỉ VIII-VII TCN các tộc
người đó đều tự gọi một tên chung là Helen (Hellenes) và gọi đất nước mình là
Hella (Hella) tức Hy Lạp .
b) Điều kiện hình thành nền văn minh La Mã.
- Bán đảo Italia, nơi hình thành nhà nước La Mã cổ đại nằm ở Nam
Âu như một chiếc chân người chìa ra Địa Trung Hải.
- Bán đảo Italia có nhiều đồng bằng, tương đối thuận lợi cho
việc phát triển nông nghiệp, trong lòng đất lại chứa nhiều khoáng sản, thuận
lợi cho nghề luyện kim. Địa hình ở đây lại không bị chia cắt, tạo điều kiện cho
sự thống nhất. Bờ biển ở phía nam bán đảo có nhiều vịnh, cảng thuận tiện cho
tàu bè trú ẩn khi thời tiết xấu. Do điều kiện địa lí như vậy nên bán đảo Italia
có điều kiện tiếp xúc với những nền văn minh phát triển sớm ở phương Đông.
- Người dân có mặt sớm nhất ở trên bán đảo Italia được gọi là
Italiot, trong đó bộ phận sống trên đồng bằng latium được gọi là người Latinh
(Latin), ngoài ra còn có một số nhỏ người gốc Gôloa, gốc Hy Lạp.
2. Những thành tựu cơ bản của nền văn minh Hy Lạp – La Mã
a) Những thành tựu cơ bản của văn minh Hy Lạp.
Tuy xuất hiện muộn hơn nền văn minh Ai Cập nhưng nhờ tiếp thu
được nhiều giá trị từ Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại và phát triển lên, nâng lên tầm
khái quát, nên nền văn minh Hy Lạp cổ đại đã có rất nhiều đóng góp giá trị.
* Chữ viết:
Về chữ viết, người Hy Lạp cổ đại đã dựa trên hệ thống chữ viết của người
Phênixi (Phoenicia) rồi cải tiến, bổ xung thành một hệ thống chữ cái mới gồm 24
chữ cái. Từ chữ Hy Lạp cổ sau này đã hình thành nên chữ Latinh và chữ Slavơ. Đó
là cơ sở chữ viết mà nhiều dân tộc trên thế giới ngày nay đang sử dụng.
* Văn học:
Văn học Hy Lạp cổ đại có thể chia ra làm ba bộ phận chủ yếu có liên quan với
nhau, đó là thần thoại, kịch, thơ.
- Người Hy Lạp có một hệ thống thần thoại rất phong phú để mô tả
thế giới tự nhiên, nói lên kinh nghiệm cuộc sống và cả tâm tư sâu kín của con
người. Hầu như trong cuộc sống thời đó có việc gì thì đều có thần bảo trợ, lo
về công việc đó. Kho tàng thần thoại Hy Lạp mãi tới ngày nay còn được nhiều môn
nghệ thuật ở các nước trên thế giới khai thác. Đây là một dân tộc có một kho tàng
thần thoại mà nhiều dân tộc lớn trên thế giới phải ghen tị. Về sau, khi có chữ
viết, kho tàng thần thoại này được Hêdiốt ( nhà thơ Hy Lạp sống vào thế kỉ VIII
TCN ) hệ thống lại trong tác phẩm Gia phả các thần.
- Thơ ca là thể loại văn học rất phát triển, đặc biệt nó có thế
mạnh khi chưa có chữ viết. Tiêu biểu nhất phải kể đến tác phẩm Iliat và Ôđixê
của Homer ( thế kỉ IX TCN ). Tới thế kỉ VII-VI TCN xuất hiện nhiều nhà thơ được
công chúng ưa thích như Acsilôcút, Xôlông, Xaphô, Anacrêông...
- Hy Lạp là quê hương của kịch nói phương Tây. Ở đây có cả bi
kịch lẫn hài kịch. Những nhà viết kịch nổi tiếng thời đó như Etsin, Sôphôclơ,
Ơripit...
* Sử học:
Từ thế kỉ VIII-VI TCN, lịch sử Hy Lạp chỉ được truyền lại bằng truyền thuyết và
sử thi. Đến thế kỉ V TCN lịch sử ở Hy Lạp mới trở thành một bộ môn riêng biệt.
Các nhà viết sử tiêu biểu của Hy Lạp thời đó là Hêrôđôt (Herodotus) với cuốn
Lịch sử chiến tranh Hy-Ba , Tuyxiđit (Thuycudides) cuốn Lịch sử chiến tranh
Plôpônedơ.
* Kiến trúc, điêu khắc: Những công trình kiến trúc của Hy Lạp cổ đại không hùng vĩ như
của Ai Cập cổ đại nhưng nó lại nổi bật ở sự thanh thoát, hài hoà. Các công
trình kiến trúc ở Hy Lạp cổ đại thường được xây dựng trên những nền móng hình
chữ nhật với những dãy cột đá tròn ở bốn mặt. Qua nhiều thế kỉ, người Hy Lạp cổ
đại đã hình thành ra ba kiểu cột mà ngày nay người ta vẫn thể hiện trong trường
phái “cổ điển”.Kiểu Đôric (thế kỉVIITCN), trên cùng là những phiến đá vuông
giản dị không có trang trí; kiểu Lônic (t.kỉ V TCN) cột đá tròn thon hơn, có đường
cong ở bốn góc phiến đá hình vuông như hai lọn tọc uốn; kiểu Côranh ( thế kỉ IV
TCN ) có những cành lá dưới những đường cong, thường cao hơn và bệ đỡ cầu kì
hơn.
- Các công trình kiến trúc tiêu biểu thời bấy giờ là đền
Pactơnông (Parthenon) ở Aten, đền thờ thần Dớt (Zeus) ở núi Olempia, đền thờ nữ
thần Atena (Athena).
- Các nhà điêu khắc ở Hy Lạp cổ đại cũng để lại nhiều tác phẩm
tới bây giờ vẫn xứng đáng là mẫu mực cho điêu khắc như các pho tượng Vệ nữ ở
Milô, tượng Lực sĩ ném đĩa, tượng nữ thần Atena, tượng thần Hecmet...Những nhà
điêu khắc tiêu biểu thời đó như Phiđat ( Phidias), Mirông(
Miron),Pêliklêt,(Polykleitos)...
* Khoa học tự nhiên: Thế giới Hy Lạp cổ đại còn cống hiến cho nhân loại nhiều nhà
bác học mà đóng góp của họ tới nay vẫn còn giá trị như: Ơclit (Euclide), người
đưa ra các tiên đề hình học đặt cơ sở cho môn hình học sơ cấp. Pitago (
Pythagoras), ông đã chứng minh định lí mang tên ông và ngay từ thế kỉ V TCN ông
đã đưa ra giả thuyết trái đất hình cầu. Talét (Thales), người đã đưa ra Tỉ lệ
thức (Định lí Talét). Đặc biệt là Acsimet (Archimede), người đã đề ra nguyên lí
đòn bẩy, chế ra gương cầu lõm, máy bắn đá và phát hiện ra lực đẩy tác động lên
một vật nếu vật đó trong lòng chất lỏng (lực đẩy Acsimet).
* Triết học:
Hy Lạp cổ đại là quê hương của triết học phương Tây, ở đây có cả hai trường
phái triết học duy vật và duy tâm. Đại diện cho trường phái duy vật là các nhà
triết học nổi tiếng như: Talét (Thales), Hêraclit (Heracleitus), Đêmôcrit
(Democritus)... Đại diện cho trường phái duy tâm là các nhà triết học: Platôn,
Arixtôt.
* Luật pháp và tổ chức nhà nước: Các quốc gia ở phương Tây chịu ảnh hưởng
nhiều về hệ thống pháp luật và cách tổ chức nhà nước từ Hy Lạp cổ đại.
- Nhà nước ở Hy Lạp cổ đại hình thành trên cơ sở sự tan rã của
xã hội thị tộc. Nhà nước dân chủ chủ nô ở Hy Lạp ngày càng được hoàn thiện qua
những cải cách của Xôlông (Solon), Clisten (Clisthenes) và Pêliclêt (Pericles).
- Về luật pháp, bộ luật cổ nhất của Hy Lạp là bộ luật Đracông
(Dracon), bộ luật này có những hình phạt rất khắc nghiệt, có khi chỉ ăn cắp
cũng bị xử tử. Sau này, nhờ những cải cách của Xôlông, Clisten, luật pháp Hy
Lạp ngày càng mang tính dân chủ hơn (nhưng cũng chỉ công dân tự do mới được
hưởng, nô lệ thì không).
b) Những thành tựu của nền văn minh La Mã.
Người La Mã không chỉ kế thừa nền văn minh của người Hy Lạp thời
cổ đại mà còn có những đóng góp đáng kể, tạo thành nền văn minh Hy-La, cơ sở
của văn minh Tây Âu sau này.
* Chữ viết:
Từ chữ Hy Lạp cổ, người La Mã đã đặt ra một loại chữ riêng của mình mà ngày nay
ta quen gọi là chữ Latinh. Đây là một thứ chữ viết đơn giản, thuận tiện nên đã
được sử dụng rộng rãi trong toàn bộ đế quốc và sau này đã trở thành chữ viết
của nhiều quốc gia trên thế giới.
* Văn học:
Văn học La Mã cổ đại cũng có nhiều thể loại như thơ, kịch, sử thi với các tác
giả nổi tiếng như Xixêrông (Xixeron), Viêcghin (Vergil), Hôratiut (Horatius).
* Sử học:
Từ thế kỉ III TCN, người La Mã đã có viết sử nhưng họ viết bằng chữ Hy Lạp.
Người đầu tiên viết sử La Mã bằng chữ Hy Lạp là Phabiut.
Người viết sử La Mã bằng chữ Latinh đầu tiên là Cato(234-149
TCN). Sau đó còn nhiều người khác như Plutac, Tacitus.
* Triết học:
Các nhà triết học La Mã cũng đã kế thừa truyền thống của triết học Hy Lạp, kế
thừa những tư tưởng duy vật của Đêmôcrit. Những nhà triết học tiêu biểu thời kì
đó như: Lucretius, Ciceron.
* Luật pháp:
Bộ luật thành văn cổ nhất ở La Mã là bộ Luật 12 bảng. Nó được gọi như vậy vì
được khắc vào 12 bảng đá vào năm452 TCN.
* Khoa học tự nhiên: Các nhà khoa học người La Mã cũng có công sưu tập, tổng hợp
những kiến thức khoa học khắp vùng Địa Trung Hải. Những nhà khoa học nổi tiếng
thời đó như Plinius, Ptôlêmê, Hêrôn
* Y học: Ông tổ của Y học phương Tây là Hipôcrat (Hippocrates). Ông đặc
biệt được đời sau luôn nhớ tới bởi lời thề Hypôcrat khi nhắc những người bước
chân vào ngành y. Cuốn Phương pháp chữa bệnh của Ông để lại đã được dùng làm
sách giáo khoa cho nhiều trường đại học ở châu Âu mãi tới thời cận đại.
* Kiến trúc và điêu khắc: Một trong những giá trị kiến trúc của người La Mã thể hiện qua
các cầu vòm bằng đá. Nhờ những chiếc cầu này mà hệ thống giao thông nối liền
các vùng của đế chế La Mã trở nên thuận lợi.
Công trình kiến trúc La Mã nổi tiếng hay được nhắc đến là đền
Pactơnông, đấu trường Côlidê và Khải hoàn môn. Kiến trúc sư La Mã nổi tiếng
thời đó là Vitorius.
Điêu khắc La Mã có cùng phong cách với điêu khắc Hy Lạp. Những
bức tượng còn lại ở thành Rôma và những phù điêu trên Khải hoàn môn là hiện vật
tiêu biểu cho điêu khắc La Mã.
Câu 11
Sự ra đời và phát triển của đạo Ky tô thời cổ trung đại ở châu
Âu
1. Sự ra đời:
Theo truyền thuyết, người sáng lập ra đạo Kitô là Jesus Crit,
con của chúa Trời đầu thai vào người con gái đồng trinh Maria. Jesus Crit ra
đời vào khoảng thế kỉ IV TCN tại Béthleem (Palestin ngày nay). Đến năm 30 tuổi,
Jesus Crit bắt đầu đi truyền đạo.
Đạo Kitô khuyên con người nhẫn nhục chịu đựng đau khổ nơi trần
gian để khi chết sẽ được hưởng hạnh phúc nơi thiên đàng. Chúa Trời sáng tạo ra
thế giới này. Chúa Trời, chúa Jesus, thành thần tuy ba mà là một ( tam vị nhất
thể ). Đạo Kitô cũng có quan niệm thiên đường, địa ngục, thiên thần, ma quỉ...
Giáo lí của đạo Kitô gồm có Kinh cựu ước (tiếp nhận của đạo Do Thái) và Kinh
tân ước (kể từ khi chúa Jesus ra đời). Luật lệ của đạo Kitô thể hiện trong 10
điều răn.
Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ đạo Kitô tổ chức thành những công
xã vừa mang tính chất tôn giáo, vừa giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Đến thế
kỉ II, các công xã Kitô dần phát triển thành Giáo hội.
2. Sự phát triển của Đạo Kitô
Khi mới ra đời, đạo Kitô bị các hoàng đế La Mã và bọn quí tộc
địa phương đàn áp rất tàn bạo. Vụ đàn áp đẫm máu nhất là vụ đàn áp vào năm 64,
dưới thời hoàng đế Nêrông, máu của biết bao nhiêu tín đồ đã đổ. Nhưng số người
theo đạo Kitô không những không giảm mà ngày càng tăng lên. Về sau, Giáo hội đề
ra nguyên tắc “vương quốc thì trả cho vua, thiên quốc thì trả cho Chúa trời”
tức là tôn giáo không dính dáng đến chính trị. Thấy đàn áp mãi không có tác
dụng, các hoàng đế La Mã nghĩ tới biện pháp chung sống. Năm 311, một hoàng đế
La Mã đã ra lệnh ngưng đàn áp các tín đồ Kitô. Năm 313, đạo Kitô được hoàng đế
La Mã công nhận là hợp pháp. Năm 337, một hoàng đế La Mã lúc đó là Cônxtantinut
đã gia nhập đạo Kitô.
Hoàng đế theo đạo Kitô thì đương nhiên các quan lại đua nhau
theo Đạo. Ngân quĩ quốc gia cũng được chi ra để đóng góp cho Nhà thờ. Đạo Kitô
được truyền bá rộng khắp trong vùng đất quanh Địa Trung Hải. Sau này, khi đế
quốc La Mã tan vỡ thì đạo Kitô đã ăn sâu, lan rộng khắp châu Âu.
Câu
12
Những thành tựu nổi bật của nền văn minh Tây Âu thời phục hưng
Những thành tựu nổi bật của nền văn minh Tây Âu thời phục hưng
1. Văn học: Cả ba thể loại, thơ, kịch, tiểu thuyết trong nền văn học Phục
hưng đều có những thành tựu quan trọng.
- Về thơ, có hai đại biểu là Đantê ( 1265-1324 ) và Pêtracca (
1304 - 1374 ). Đantê là người mở đầu phong trào Văn hoá Phục hưng ở Ý. Ông xuất
thân trong một gia đình kị sĩ suy tàn ở Plorencia. Ông đả kích các thầy tu lúc
đó và cổ vũ cho sự thống nhất của đất nước Ý. Tác phẩm tiêu biểu của ông la
Thần khúc và Cuộc đời mới.
- Pêtracca là một nhà thơ trữ tình Ý. Trong tác phẩm của mình,
ông ca ngợi tình yêu lí tưởng, ca ngợi sắc đẹp, ca ngợi sự tự do tư tưởng và
chống lại sự gò bó kinh điển.
- Về tiểu thuyết, có hai nhà văn nổi bật là Bôcaxiô ( Boccacio
), Rabơle ( F. Rabelais ) và Xecvantec (Cervantes). Boccacio là một nhà văn Ý,
tác phẩm nổi tiếng của ông là tập truyện Mười ngày. Qua tác phẩm Mười ngày, ông
chế diễu thói đạo đức giả, công kích cuộc sống khổ hạnh, cấm dục vì cho đó là
trái tự nhiên. Ông cổ vũ cho cuộc sống vui vẻ, biết tận hưởng mọi lạc thú của
cuộc sống.
- F. Rabơle là một nhà văn Pháp, ông có hiểu biết rộng rãi cả về
khoa học tự nhiên, văn học, triết học và luật pháp. Tác phẩm trào phúng nổi
tiếng của ông là cuộc đời không giá trị của Gargantua và Pantagruen.
- Migel de Cervantes
là một nhà văn lớn của Tây Ban Nha. Tác phẩm nổi tiếng của ông là Don Quyjote.
Thông qua hình ảnh chàng hiệp sĩ lỗi thời Don Quyjote, Cervantes ám chỉ tấng
lớp quí tộc Tây Ban Nha với những quan niệm danh dự cổ hủ và vẽ nên bức tranh
một nước Tây Ban Nha quân chủ đang bị chìm đắm trong vũng lầy phong kiến lạc
hậu.
2. Kịch: Nhà viết kịch vĩ đại
thời phục hưng là một người Anh có tên là W. Sếchpia.(William Shakespeare ). Ông đã viết tới 36 vở
bi, hài kịch. Những vở kịch nổi tiếng ảnh hưởng tới nhiều nước trên thế giới
như Rômêô và Giuyliet, Hamlet, Vua Lia, Ôtenlô...
3. Hội họa, điêu khắc: Nhà danh hoạ khổng lồ thời Phục hưng là Lêôna đơ Vanhxi (
Leonardo da Vinci), ông là một người Ý. Ông không những là một hoạ sĩ thiên tài
mà còn là một con người thông thái trên nhiều lĩnh vực. Ông đã để lại những bức
hoạ nổi tiếng như Bữa tiệc cuối cùng , Nàng Giôcôngđơ ( La Joconde ), Đức mẹ
đồng trinh trong hang đá. Từ thế kỉ XV, ông đã đưa ra ý tưởng sử dụng cánh quạt
đẩy nước cho thuyền thay mái chèo; vẽ ra nguyên tắc hoạt động của máy bay trực
thăng, dù thoát hiểm...nhưng những kĩ thuật hồi đó không cho phép ông thực hiện
những ý tưởng của mình.
- Mikenlăngiơ (Michelangelo) ra đời ở Ý(1475-1564). Ông là một
danh hoạ, một nhà điêu khắc nổi tiếng, đồng thời còn là một kiến trúc sư, một
thi sĩ. Tác phẩm tiêu biểu của ông là bức hoạ Sáng tạo thế giới vẽ trên trần
nhà thờ Xixtin gồm có 343 nhân vật. Còn bức Cuộc phán xét cuối cùng thì được vẽ
trên tường nhà thờ Xixtin. Về điêu khắc, ông để lại nhiều bức tượng tiêu biểu
như pho tượng Môidơ, Ngưòi nô lệ bị trói, đặc biệt là pho tượng Đavid. Pho
tượng Đavid của Mikenlăngiơ được tạc trên đá cẩm thạch cao tới 5,3 mét. Đavid ở
đây không phải là một chú bé chăn cừu mà là một chàng thanh niên đang độ tuổi
mười tám đôi mươi, đang độ tuổi sung sức, với cơ bắp khoẻ mạnh, vầng trán thông
minh, ánh mắt tự tin, sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn thử thách. Mượn hình
tượng Đavid, Mikenlăngiơ thể hiện sức sống đang lên của một lớp người đại diện
cho một thời đại mới, thời đại cần những con người khổng lồ và đã sản sinh ra
những con người khổng lồ .
- Nghệ thuật thời Phục hưng còn có sự đóng góp của những nghệ sĩ
nổi tiếng khác như Raphaen ( Raffaello ), Giôtô (Giotto ), Bôtixeli (
Botticelli )...
4. Khoa học tự nhiên: Thời Phục hưng còn có sự đóng góp của nhiều nhà khoa học
dũng cảm, dám chống lại những suy nghĩ sai lầm nghìn đời đã được giới quyền lực
đảm bảo, thừa nhận. N. Côpecnic ( Nikolai Kopernik - 1473 - 1543 ) là
một giáo sĩ người Ba Lan. Qua nhiều năm nghiên cứu, ông đã đi tới một kết luận
đáng sợ hồi đó là: Trái đất quay xung quanh Mặt trời chứ không phải là Mặt trời
quay xung quanh Trái đất. Thuyết Mặt trời là trung tâm đó của ông vậy là trái
hẳn với thuyết Trái đất là trung tâm đã được nhà thờ công nhận hàng nghìn năm.
- Gioocđanô Brunô ( Giordano Bruno - 1548-1600 ), là một giáo sĩ
trẻ người Ý. Ông tích cực hưởng ứng học thuyết của Côpecnic khi giáo hội cấm
lưu hành. Không những thế, ông còn phát triển thêm tư tưởng của Côpecnic. Ông
cho rằng Mặt trời không phải là trung tâm của vũ trụ mà chỉ là trung tâm của
Thái dương hệ.
- Một nhà thiên văn học người Ý khác là Galilê ( Gallileo
Gallilei - 1564-1642 ) tiếp tục phát triển quan điểm của Côpecnic và Brunô. Ông
là người đầu tiên dùng kính viễn vọng phóng to gấp 30 lần để quan sát bầu trời.
Ông đã chững minh là Mặt trăng có bề mặt gồ ghề chứ không phải là nhẵn bóng;
Thiên hà là do vô số vì sao tạo thành. Ông đã giải thích hiện tượng sao chổi.
Ông là cha đẻ của khoa học thực nghiêm, phát hiện ra định luật rơi tự do và dao
động con lắc.
- Tiến xa hơn, nhà thiên văn học người Đức là Kêplơ ( Kepler -
1571-1630 ) đã phát minh ra ba qui luật quan trọng về sự vận hành của các hành
tinh xung quanh Mặt trời. Ông đã chứng minh rằng quĩ đạo chuyển động của các
hành tinh không phải là hình tròn mà là hình elíp, càng đến gần Mặt trời, vận
tốc chuyển động càng tăng lên và càng xa Mặt trời thì vận tốc chuyển động càng
chậm lại.
5. Triết học: Triết học cũng có những bước phát triển mới. Người mở đầu cho
trường phái triết học duy vật thời Phục hưng là một người Anh, F. Baicơn (
Francis Bacon - 1561- 1626 ). Ông đề cao triết học duy vật Hy Lạp cổ đại, phê
phán triết học duy tâm và triết học kinh viện.
Câu 13
Kết quả và ảnh hưởng của công cuộc phát kiến địa lý đối với sự
phát triển của văn minh nhân loại
1. Kết quả của công cuộc phát kiến địa lý.
- Cuộc hành trình của Vaxcodo gama men theo bờ biển châu Phi đến
điểm cực nam (Mũi hy vọng) rồi vượt qua Ấn độ dương, cập bến Ấn Độ. Những
chuyến đi tiếp theo đã đến các quần đảo ĐNA rồi đi vào Biển Đông tới các cacngr
Trung Hoa và Nhật Bản
- Những chuyến vượt Đại Tây Dương của Crixtôp Côlông và vêpuxơ
Amêrigô đã phát hiện ra lục địa châu Mỹ, khi đó được gọi là Tân thế giới hoặc
nhầm lần là “Tây Ấn Độ”
- Cuộc thám hiểm của Megienlan chẳng những đã đến châu Mỹ mà còn
vượt qua Thái Bình Dương để tới quàn đảo vùng ĐNA, được đặt tên là Philippin
Những chuyến vượt biển trên cùng nhiều cuộc
thám hiểm tiếp theo đã đem lại nhiều kết quả to lớn vượt xa mục đích ban đầu,
có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong lịch sử loài người
2. Ảnh hưởng của cuộc phát kiến địa lý
Các nhà thám hiểm bằng những chuyến đi thực tế đầy dũng cảm của
mình đã chứng minh cho giả thuyết Trái đất hình cầu. Họ còn cung cấp cho các
nhà khoa học rất nhiều hiểu biết mới về địa lí, thiên văn, hàng hải, sinh vật học...
Sau những cuộc phát kiến này, một sự tiếp xúc giữa các nền văn
hoá trên thế giới diễn ra do các cá nhân có nguôn gốc văn hoá khác nhau như các
giáo sĩ, nhà buôn, những người khai phá vùng đất mới, những quân nhân...
Một làn sóng di chuyển dân cư lớn trên thế giới trong thế kỉ
XVI-XVIII với những dòng người Châu Âu di chuyển sang Châu Mĩ, Châu Úc. Nhiều
nô lệ da đen cũng bị cưỡng bức rời khỏi quê hương xứ sở sang Châu Mĩ .
Hoạt đông buôn bán trên thế giới trở nên sôi nổi, nhiều công ti
buôn bán tầm cỡ quốc tế được thành lập.
Những cuộc phát kiến địa lí này cũng gây ra không ít hậu quả
tiêu cực như nạn cướp bóc thuộc địa, buôn bán nô lệ da đen và sau này là chế độ
thực dân.
Câu 14
Hoàn cảnh ra đời và ảnh hưởng của phong trào văn hóa phục hưng
1. Hoàn cảnh ra đời của phong trào văn hóa phục hưng
Văn hoá Tây Âu thế kỉ V - X dựa trên nền tảng nền kinh tế tự
cung tự cấp, sự giao lưu trao đổi rất hạn chế, văn hoá vì vậy cũng phát triển
không đáng kể.
Tới thế kỉ XIV, với sự phát triển kinh tế công thương ở các
thành thị, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dần dần hình thành và ngày càng
lớn mạnh. Các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản không còn chịu chấp nhận những
giáo lí phong kiến lỗi thời, họ vận động khôi phục lại sự huy hoàng của văn hoá
Tây Âu thời cổ đại. Họ tìm thấy trong nền văn hoá cổ đại những yếu tố phù hợp
với mình, có lợi cho mình để đấu tranh chống lại những trói buộc của nền văn
hoá trung cổ .
Phong trào Văn hoá Phục hưng xuất hiện đầu tiên ở Ý, vì ở đây
thế kỉ XIV đã xuất hiện các thành thị tự do như những quốc gia nhỏ. Quan hệ sản
xuất tư bản đã chiếm địa vị chi phối đời sống văn hoá. Ý lại là trung tâm của
đế quốc Rôma cổ đại, vì vậy ở đây còn giữ lại nhiều di sản văn hoá cổ đại của
Hy Lạp - Rôma. Hơn ai hết, các nhà văn hoá Ý có điều kiện khôi phục lại nền văn
hoá trước tiên khi có điều kiện. Từ Ý, phong trào lan sang Anh, Pháp, Tây Ban
Nha, Đức...
Tầng lớp giàu có ở các thành thị muốn thể hiện sự giàu sang của
mình qua các dinh thự và các tác phẩm nghệ thuật, điều đó cũng tạo điều kiện
cho các nhà văn hoá thể hiện tài năng.
2. Ảnh hưởng của phong trào văn hóa phục hưng.
Là một phong trào cách mạng về tư tưởng và văn hóa, phong trào
văn hóa phục hưng đã có ảnh hưởng rất lớn đối với Tây Âu cũng như với toàn thế
giới.
a) Bằng tinh thần đấu tranh dũng cảm bất chấp lò thiêu và ngục
tối của tòa án tôn giáo, các chiến sĩ trên mặt trân văn hóa thời phục hưng đã
đánh bại hệ tư tưởng lỗi thời của phong kiến và giáo hội Thiên chúa, do đó đã
giải phóng ư tưởng tình cảm con người khỏi sự kìm hãm và trói buộc của giáo
hội. Từ đó chủ nghĩa nhân văn với các nội dung nhân quyền, nhân tính, cá tính,
ngày càng giữ vai trò chi phối không những về văn học nghệ thuật mà trong cả
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
b) Sau một nghìn năm chìm đắm, phong trào văn hóa phục hưng là
một bước tiến diệu kỳ trong lịch sử văn minh ở Tây Âu. Các nhà văn nghệ sĩ, các
nhà khoa học, triết học đã đóng góp trí tuệ và tài năng tuyệt vời của mình vào
phong trào văn hóa đó bằng những tác phẩm và công trình bất hủ. Không những thế
phong trào văn hóa phục hưng còn làm cơ sở và mở đương cho sự phát triển của
văn hóa Tây Âu trong hững thế kỷ tiếp sau.
Câu 15
Quá trình cải cách tôn giáo và sự hình thành của đạo tin Lành ở
Tây Âu thời trung đại
1. Hoàn cảnh lịch sử.
Thời kì trung đại, giáo hội Thiên chúa là một thế lực thống trị
về mặt tư tưởng đầy quyền uy. Giáo hội còn được sự ủng hộ của các lãnh chúa
phong kiến. Sang thế kỉ XVI, giai cấp tư sản muốn loại bỏ những điều trong giáo
lí không phù hợp với cuộc sống kinh doanh của mình, họ muốn những giáo lí phải
phù hợp với trào lưu kinh doanh và lối sống của những người giàu có mới nổi
lên. Đó là nguyên nhân sâu xa làm bùng nổ ra phong trào cải cách tôn giáo ở Tây
Âu thế kỉ XVI.
2. Quá trình cải cách tôn giáo và sự ra đời của đạo Tin lành
Đầu thế kỉ XVI, phong trào cải cách tôn giáo diễn ra ở ba nơi:
Đức, Thuỵ Sĩ và Anh.
a) Cải cách tôn giáo ở Đức: Người khởi xướng ra phong trào cải cách tôn giáo ở Đức là
Martin Luther ( 1483 - 1546 ), ông là con một thợ mỏ nghèo ở Thirighen được học
trở thành luật sư. Năm 1517, ông đã viết “Luận văn 95 điều” dán trước cửa nhà
thờ của trường đại học vitenbec tố cáo việc mua bán thẻ miễn tội hồi đó. Trong
“Luận văn 95 điều” ông cho rằng việc mua bán thẻ miễn tội là giả dối, chỉ làm
lợi cho những người lợi dụng nó. Ông cho rằng chỉ cần lòng tin vào Đức Chúa là
sẽ được cứu vớt, ngay cả những nghi lễ phức tạp, tốn kém cũng không cần thiết.
Phong trào đòi cải cách tôn giáo ở Đức đã diễn ra rất quyết
liệt. Rất nhiều người nông dân đã ủng hộ những tư tưởng của Martin Luther và
xảy ra xung đột với giáo hội. Đến năm 1555, những tư tưởng của Luther đã được
công nhận. Tôn giáo cải cách của Luther từ Đức đã lan sang nhiều nước Châu Âu
khác.
b) Cải cách tôn giáo ở Thuỵ Sĩ: Đại biểu cho phong trào cải cách tôn giáo ở
Thuỵ Sĩ là Can Vanh ( Jean Calvin). Năm 1536 Calvin cho xuất bản cuốn “Thiết
chế Cơ Đốc”. Trong tác phẩm đó, ông thừa nhận thượng đế và thuyết tam vị nhất
thể nhưng chỉ chấp nhận có kinh Phúc âm. Ông phê phán việc tu hành khổ hạnh và
cho rằng cái quan trọng nhất là lòng tin. Ông cũng chủ trương khuyến khích việc
làm giàu. Calvin chủ trương giảm bớt những nghi lễ phiền phức, tốn kém.
Điểm quan trọng của thuyết Calvin là thuyết định mệnh. Ông cho
rằng số phận con người do Chúa Trời đã định trước, việc bỏ ra một ít tiền mua thẻ
miễn tội không giải quyết được gì. Như vậy là ông chống lại việc bán thẻ miễn
tội, cho đó chỉ là một trò lừa bịp.
Cải cách tôn giáo ở Thuỵ Sĩ đã được đông đảo mọi người ủng hộ.
Giơnevơ ( Genève) trở thành trung tâm phong trào cải cách tôn giáo ở Tây Âu.
c) Cải cách tôn giáo ở Anh: Từ đầu thế kỉ XVI, kinh tế tư bản đã phát triển khá mạnh ở
Anh. Giai cấp tư sản lớn mạnh muốn có một tôn giáo mới phù hợp với cuộc sống và
công việc kinh doanh của họ.
Lúc đó nhà thờ ở Anh còn chiếm khá nhiều ruộng đất. Vua Anh cũng
muốn lấy lại một phần ruộng đất của nhà thờ và loại bỏ ảnh hưởng của giáo hội
Rôma đối với vương quyền.
Nhân việc Giáo hoàng phản đối việc bỏ vợ của vua Anh lúc đó là
Henri VIII, Henri VIII đã ban “Sắc luật về quyền tối cao” vào năm 1534, tuyên
bố cắt đứt quan hệ với giáo hội Rôma và thành lập một giáo hội riêng gọi là Anh
giáo.
Anh giáo do vua Anh làm giáo chủ, nhưng mọi giáo lí, nghi lễ,
phẩm hàm thì vẫn giống như đạo Thiên Chúa. Các giáo phẩm thì do vua Anh bổ
nhiệm, mọi ruộng đất của giáo hội Rôma bị chính quyền tịch thu. Anh giáo như
vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của giai cấp tư sản. Tư sản Anh cần có cải cách
triệt để hơn, điều đó đã dẫn tới Thanh giáo ( tôn giáo trong sạch). Thanh giáo
xoá bỏ hết tàn dư của đạo Thiên Chúa, đơn giản hoá các nghi lễ, cắt đứt quan hệ
với Anh giáo. Họ thành lập một hội đồng riêng, cầm đầu là các trưởng lão do các
tín đồ bầu ra.
Như vậy thế kỉ XVI ở Tây Âu có nhiều giáo phái mới đã ra đời.
Các giáo phái này ở các nước khác nhau, giáo lí cụ thể có điểm không giống nhau
nhưng đều giống nhau một điểm là đơn giản hoá các nghi lễ, cắt đứt quan hệ với
Giáo hoàng và toà thánh Rôma. Họ chỉ tin vào kinh Phúc âm. Chữ Phúc âm có nghĩa
là tin mừng, tin lành, nên sau này người ta gọi tôn giáo mới là đạo Tin lành.
Câu 16
Quá trình hình thành và đặc điểm của chế độ phong kiến Tây Âu,
phân tích, so sánh những đặc điểm chủ yếu của chế độ phong kiến Phương Đông –
Phương Tây
1. Quá trình hình thành và đặc điểm của chế độ phong kiến Tây Âu
- Xã hội Hy Lạp, La Mã là xã hội chiếm hữu nô lệ. Năm 476 đế
quốc Tây La Mã diệt vong. Sự kiến đó đánh dấu chế độ chiếm hữu nô lệ kết thúc,
từ đó, các vương quốc mới thành lập trên đất đai của Tây La Mã không tiếp tục
duy trì chế độ chiếm hữu nô lệ mà đi vào con đường phong kiến hóa
- Chế độ phong kiến là gì?. Đó là một hình thái kinh tế xã hội
trong đó có hai giai cấp cơ bản là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông
dân. Giai cấp địa chủ phong kiến chiếm hầu hết ruộng đất trong xã hội , còn
giai cấp nông dân thì bị mất ruộng đất nên phải cày cấy trên ruộn đất của địa
chủ, do đó bị giai cấp địa chủ bóc lột bằng địa tô và các hình thức cưỡng bức
siêu kinh tế khác.
- Ở Tây Âu, quá trình phong kiến hóa ở vương quốc Phrăng
diễn ra tiêu biểu nhất
+ Trong quá trình chinh phục vua Phrăng đã đem những vùng đất
rộng lớn phong cho những người than cận của mình lập thành những lãnh địa. Đồng
thời phong cho họ các tước hiệu quý tộc. Các lãnh địa và các tước hiệu đều được
truyền cho con cháu. Như vậy, chính sách phân phong ruộng đất của vương quốc
Phrăng đã tạo nên một giai cấp mới là giai cấp lãnh chúa phong kiến, đòng thời
cũng là giai cấp quý tộc
+ Xuất hiện đồng tời với giai cấp lãnh chúa phong kiến là giai
cấp nông nô. Trừ một bộ phận nhỏ là do nô lệ biến thành, còn phần lớn nông nô
vốn là nông dân tự do có ruộng đất riêng. Nhưng do việc chiếm đoạt ruộng
đất của lãnh chúa phong kiến, họ không còn ruộng đất và phải lệ thuộc vào cac
lãnh chúa, nộp địa tô cùng với nhiều nghĩa vụ khác.
2. Phân biệt những đặc điểm của phong kiến Tây Âu với phong kiến
phương đông
* Phân biệt
Phong kiến phương Đông:
- Chính trị: Vua là ng nắm quyền lực tuyệt đối, có quyền ra mọi quyết định liên quan đến đất nc.
- Kinh tế: Ít đổi mới, sản xuất khép kín, ko giao du với nc ngoài -> trình độ kinh tế lạc hậu
- xã hội: Chịu ảnh hưởng mạnh của tư tưởng Lão-Trang, xã hội có tôn ti trật tự, gia đình gắn bó nhiều đời.
- Chính trị: Vua là ng nắm quyền lực tuyệt đối, có quyền ra mọi quyết định liên quan đến đất nc.
- Kinh tế: Ít đổi mới, sản xuất khép kín, ko giao du với nc ngoài -> trình độ kinh tế lạc hậu
- xã hội: Chịu ảnh hưởng mạnh của tư tưởng Lão-Trang, xã hội có tôn ti trật tự, gia đình gắn bó nhiều đời.
Phong kiến phương Tây:
- Chính trị: Vua ko phải là ng có quyền lực tuyệt đối, mọi việc phải thông qua sự đồng ý của Quốc Hội
- Kinh tế : Liên tục đổi mới, học hỏi lẫn nhau nên kinh tế ko ngừng phát triển
- Xã hội: Gia đình thường chỉ có 2 thế hệ, giữa các thế hệ luôn có sự xa cách, mang tư tưởng tự do phóng khoáng
- Chính trị: Vua ko phải là ng có quyền lực tuyệt đối, mọi việc phải thông qua sự đồng ý của Quốc Hội
- Kinh tế : Liên tục đổi mới, học hỏi lẫn nhau nên kinh tế ko ngừng phát triển
- Xã hội: Gia đình thường chỉ có 2 thế hệ, giữa các thế hệ luôn có sự xa cách, mang tư tưởng tự do phóng khoáng
* So sánh:
Tại phương Tây, đặc điểm cơ bản của chế độ phong kiến là kinh tế lãnh địa,
giai cấp lãnh chúa và nông nô, hệ thống đẳng cấp dựa trên quan hệ lãnh chúa -
chư hầu, tình trạng cát cứ kéo dài.
Tại phương Đông, kinh tế lãnh địa và quan hệ lãnh chúa - nông nô không phát
triển, chế độ quân chủ tập quyền ra đời sớm và tồn tại lâu dài, bên cạnh sở hữu
tư nhân còn có sở hữu nhà nước về ruộng đất, kinh tế địa chủ với quan hệ địa
chủ - tá điền chiếm ưu thế.
Câu 17
Cách mạng công nghiệp và những thành tựu cơ bản của cuộc cách
mạng đó
1. Điều kiện dẫn tới cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh
a) Điều kiện tự nhiên.
- Anh có nhiều mỏ than, sắt và các mỏ này lại nằm gần nhau, điều
đó rất thuận lợi về mặt kinh tế khi khởi đầu cuộc cách mạng công nghiệp.
- Về nguyên liệu, Anh có thuận lợi là nguồn lông cừu trong nước
và bông nhập từ Mĩ, đó là những nguyên liệu cần thiết cho ngành dệt.
- Các dòng sông ở Anh tuy không dài nhưng sức chảy khá mạnh, đủ
để chạy các máy vận hành bằng sức nước. Hải cảng Anh thuận lợi để đưa hàng hoá
đi khắp
b) Điều kiện xã hội.
- Giai cấp quí tộc Anh sớm tham gia vào việc kinh doanh và họ
trở thành tầng lớp quí tộc mới, có quyền lợi gắn liền với tư sản, có cách nhìn
của tư sản.
- Nhu cầu về lông cừu đã dẫn tới phong trào đuổi những người
nông dân ra khỏi ruộng đất để các nhà quí tộc biến đất đai đó thành đồng cỏ
nuôi cừu. Lực lượng nông dân bị dồn đuổi ra khỏi ruộng đất đã cung cấp một
lượng lớn lao động cho các công trường thủ công ở các thành thị.
2. Những thành tựu cơ bản của cuộc cách mạng công nghiệp
- Năm 1733 John Kay đã phát minh ra “thoi bay”. Phát minh này đã
làm người thợ dệt không phải lao thoi bằng tay và năng suất lao động lại tăng
gấp đôi.
- Năm 1765 Giêm Hagrivơ ( James Hagreaves ) đã chế được chiếc xa
kéo sợi kéo được 8 cọc sợi một lúc. Ông lấy tên con mình là Gienny để đặt cho
máy đó.
- Năm 1769, Akrai ( Richard Arkrwight ) đã cải tiến việc kéo sợi
không phải bằng tay mà bằng súc vật, sau này còn được kéo bằng sức nước.
- Năm 1785, phát minh quan trọng trong ngành dệt là máy dệt vải
của linh mục Étmôn Cacrai (Edmund Cartwright). Máy này đã tăng năng suất dệt
lên tới 40 lần.
- Phát minh trong ngành dệt cũng tác động sang các ngành khác.
Lúc bấy giờ, các nhà máy dệt đều phải đặt gần sông để lợi dụng sức nước chảy,
điều đó bất tiện rất nhiều mặt. Năm 1784, Giêm Oát (James Watt) phụ tá thí
nghiệm của một trường đại học đã phát minh ra máy hơi nước. Nhờ phát minh này,
nhà máy dệt có thể đặt bất cứ nơi nào. Không những thế phát minh này còn có thể
coi là mốc mở đầu quá trình cơ giới hoá.
- Ngành luyện kim cũng có những bước tiến lớn. Năm 1784 Henry
Cort đã tìm ra cách luyện sắt “puddling”. Mặc dù phương pháp của Henry Cort đã
luyện được sắt có chất lượng hơn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về độ bền
của máy móc. Năm 1885, Henry Bessemer đã phát minh ra lò cao có khả năng luyện
gang lỏng thành thép. Phát minh này đã đáp ứng được về yêu cầu cao về số lượng
và chất lượng thép hồi đó.
- Cách mạng cũng diễn ra trong ngành giao thông vận tải. Năm
1804, chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước đã ra đời. Đến năm 1829,
vận tốc xe lửa đã lên tới 14 dặm/giờ. Thành công này đã làm bùng nổ hệ thống
đường sắt ở Châu Âu và Mĩ.
- Năm 1807, Phơntơn (Robert Fulton) đã chế ra tàu thuỷ chạy bằng
hơi nước thay thế cho những mái chèo hay những cánh buồm.
- Nhiều khu công nghiệp xuất hiện, dân tập trung ra các thành
thị ngày một nhiều dẫn tới quá trình đô thị hoá thời cận đại. Nhiều đô thị với
dân số trên 1 triệu người dần hình thành.
- Giai cấp vô sản cũng ngày càng phát triển về số lượng. Với
điều kiện sống cực khổ lúc đó, mỗi ngày lại phải làm việc từ 12 đến 15 giờ nên
những cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đã sớm nổ ra.
- Năm 1811 - 1812, ở Anh đã nổ ra phong trào đập phá máy móc. Đó
là một biểu hiện đấu tranh bộc phát.
- Bãi công là một vũ khí đấu tranh phổ biến của giai cấp vô sản.
Nhiều cuộc bãi công cũng đã nổ ra. Ở Anh, 1836 - 1848 còn nổ ra phong trào Hiến
chương.
- Quyết liệt hơn, ở Pháp, Đức còn nổ ra những cuộc khởi nghĩa.
Năm 1831 - 1834 tại Lion (Pháp) và Sơlêdin (Đức) đã nổ ra những cuộc khởi
nghĩa. Những cuộc đấu tranh này chứng tỏ giai cấp vô sản đang trở thành lực
lượng chính trị độc lập, đòi hỏi thay đổi sự thống trị của giai cấp tư sản.
Câu 18
Những thành tựu cơ bản của văn minh thế giới nửa thế kỷ XX đầu
thế kỷ XXI
- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã đạt được những thành tựu
kì diệu trong mọi ngành khoa học cơ bản và trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, rõ
nét nhất là trong các ngành điện tử-tin học, năng lượng mới, vật liệu mới, công
nghệ sinh học, kĩ thuật lade, khoa học vũ trụ.
- Máy tính và rôbôt là những sản phẩm tiêu biểu của công nghệ
điện tử-tin học. Từ những chiếc máy vi tính (compute) đầu tiên ra đời vào năm
1946 đến nay, máy tính đã trải qua bốn thế hệ. Từ những chiếc máy tính điện tử
đầu tiên sử dụng bóng đèn điện tử chân không, rồi chất bán dẫn, vi mạch (mạch
tích hợp IC - Integrated Circuit), vi mạch với độ tích hợp cao. Từ máy tính
điện tử dẫn tới sự kết nối Internet, tạo ra mạng thông tin toàn cầu với khả
năng trao đổi thông tin cực nhanh, giá rẻ.
- Đội ngũ rôbôt công nghiệp ngày càng đông đảo, thông minh hơn
và lĩnh vực tham gia hoạt động đang ngày càng mở rộng.
- Nhiều loại vật liệu mới ra đời trong hoàn cảnh vật liệu thiên
nhiên ngày càng vơi cạn dần. Những loại vật liệu mới này còn có những tính năng
hơn hẳn vật liệu tự nhiên như siêu bền, siêu cứng, siêu nhẹ...Tên các loại vật
liệu mới như composit, polyme, silic, sợi cáp quang... ngày càng trở nên phổ
biến. Nhiều loại năng lượng mới đã được con người sử dụng để biến thành điện
năng như năng lượng nguyên tử, năng lượng Mặt Trời, năng lượng gió...
- Tia lade (laser) mới được phát minh ra từ những năm 60 của thế
kỉ XX nhưng đến nay đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, từ quân sự, thiên
văn, y học, công nghệ in, thông tin liên lạc...
- Công nghệ sinh học đã đạt được nhiều thành tựu đáng kinh ngạc,
thậm chí đáng sợ. Công nghệ sinh học tập trung vào bốn lĩnh vực : công nghệ
gien, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh, công nghệ enzim. Nhờ công nghệ sinh
học, người ta đã tạo ra nhiều giống cây, con mới với những đặc tính ưu điểm
khác hẳn các giống trong tự nhiên; nhiều loại dược phẩm mới ra đời, nhiều loại
chất xúc tác mới xuất hiện...
- Trong nghiên cứu vũ trụ, con người đã tiến những bước dài mà
đi đầu là hai nước Liên Xô và Mĩ. Các tàu vũ trụ của Liên Xô và Mĩ đã đi thăm
dò những hành tinh xa xôi ngoài Trái Đất. Liên Xô, Mĩ và giờ đây đang thêm
nhiều nước khác đã phóng các vệ tinh nhân tạo đáp ứng nhu cầu truyền hình,
thông tin toàn cầu, điều tra tài nguyên, dự báo thời tiết, mạng định vị qua vệ
tinh...
Câu 19
Điều kiện hình thành những thành tựu cơ bản của nền văn minh
công nghiệp, Nền văn minh công nghiệp đã có đóng góp gì cho sự phát triển chung
của nhân loại và công cuộc CNH – HĐH ở Việt Nam hiện nay
1. Điều kiện hình thành những thành tựu cơ bản của nền văn minh
công nghiệp.
Câu 20
Kể tên nền văn minh trên thế giới mà A/c yêu thích, cơ sở hình
thành của nền văn minh tiêu biểu.
Nền văn minh Ai cập, Lưỡng Hà, Arập, Trung quốc,….
Cơ sở hình thành của nền văn minh TRung Quốc
Lãnh thổ Trung Quốc ngày nay rộng mênh mông nhưng Trung Quốc
thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ nhiều. Địa hình Trung Quốc đa dạng, phía Tây có
nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu
thổ phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp.
Trong hàng ngàn con sông lớn nhỏ ở Trung Quốc, có hai con sông
quan trọng nhất là Hoàng Hà và Trường Giang (Dương Tử). Hai con sông này đều
chảy theo hướng tây-đông và hàng năm đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng
ở phía đông Trung Quốc.
Trung Quốc gồm nhiều dân tộc nhưng đông nhất là người Hoa-Hạ.
Người Hoa ngày nay tự cho tổ tiên họ gổc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh
Thiểm Tây và sông Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay.(Dân núi Hoa sông Hạ). Trong
gần 100 dân tộc hiện sinh sống trên đất Trung Quốc ngày nay, có 5 dân tộc đông
người nhất là Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng.
Câu 21
Những nét chính trong tư tưởng của nhà khai sang về vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền
từ Tk XVI – XVIII. Việt Nam đã vận dụng tư tưởng của các nhà khai
sang ntn trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
……………….
Câu 22
Thế nào là cách mạng công nghiệp, những thành tựu của KHCN nửa
sau thế kỷ XX có tác động thế nào đến quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở
việt Nam hiện nay.
1. Thế nào là cách mạng công nghiệp.
- Cách mạng công nghiệp là cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản
xuất; là sự thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế-xã hội, văn hóa và kỹ thuật,
xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới. Trong thời kỳ này, nền
kinh tế giản đơn, quy mô nhỏ, dựa trên lao động chân tay được thay thế bằng
công nghiệp và chế tạo máy móc quy mô lớn. Tên gọi "Cách mạng công
nghiệp" thường dùng để chỉ giai đoạn thứ nhất của nó diễn ra ở cuối thế kỷ
18 và đầu thế kỷ 19. Giai đoạn hai hay còn gọi là Cách mạng công nghiệp lần thứ
hai tiếp tục ngay sau đó từ nửa sau thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20.
2. Tác động đến quá trình CNH – HĐH ở Việt Nam
a) Đặc trưng cơ bản:
- Sự phát triển của ngành năng lượng mới.
- Những vật liệu mới cho phép đổi mới và chế tạo những máy móc
mới, trong đó có các tên lửa cực mạnh mở ra kỉ nguyên vũ trụ.
- Cách mạng sinh học.
- Máy tính có thể làm hàng triệu đến vài tỉ phép tính trong một
giây.
b) Tác động.
KẾT LUẬN
- Lịch sử văn minh nhân loại là một quá trình phát triển liên
tục từ thấp tới cao, trong đó có sự đóng góp của rất nhiều dân tộc, nhiều quốc
gia. Có những dân tộc ngày nay không còn tồn tại với tư cách một dân tộc độc
lập, họ đã bị hoà tan trong quá trình lịch sử, nhưng dấu ấn mà tổ tiên họ để
lại tới ngày nay, nhân loại không thể quên, như hệ thống chữ viết A,b, g...của
người Phênixi. Không dân tộc nào trên thế giới không học hỏi, tiếp thu những
giá trị văn minh của các dân tộc khác. Giao lưu, trao đổi, học hỏi những giá
trị văn minh lẫn nhau là qui luật chung của tất cả các dân tộc.
- Thời cổ đại, trong quá trình phát triển gần như độc lập của
mình, mỗi dân tộc cũng cũng đã tiếp thu những giá trị văn minh của các dân tộc
khác. Chúng ta đã biết, người Hy Lạp thời cổ đại xây dựng được nền văn minh rực
rỡ so với thời kì đó, trong đó có nhiều giá trị văn minh họ tiếp thu từ người
Ai Cập, Lưỡng Hà cổ đại rồi khái quát, phát triển lên. Tới thời Trung đại, dù
không thích người Arập nhưng người phương Tây cũng vẫn phải tiếp thu các chữ số
mà người Arập sử dụng, vẫn phải học cách làm giấy từ người Arập...( mặc dù trên
chữ số trên mặt các đồng hồ lớn ở nhà thờ phương Tây thì vẫn sử dụng chữ số La
Mã). Xu thế hoà nhập, tiếp thu những giá trị văn minh lẫn nhau là qui luật sống
còn của mỗi dân tộc.
- Trong thời kì các nước thực dân phương Tây đi xâm chiếm các
nước chậm phát triển, văn minh phương Tây được các nhà cầm quyền thực dân đề
cao. Sau này, cùng với phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc, nhiều giá trị
văn minh phương Tây bị lên án, bị cho là thủ phạm của lối sống thực dụng, suy
đồi, mất gốc. Các cụ nhà Nho trước kia có người đã chửi mắng nặng lời con cháu
dám cắt tóc ngắn...Nhưng chỉ sau khi giành độc lập vài chục năm, nhiều nước đã
có xu hướng nhận ra rằng, nền văn minh dân tộc sẽ rất hạn chế nếu không chịu
tiếp thu những giá trị hợp lí của văn minh phương Tây. Trong vấn đề này, bài
học Nhật Bản là một tấm gương đáng để ta suy nghĩ. Nhật Bản trước kia vốn cũng
chịu ảnh hưởng nặng nề của văn minh Trung Hoa, nhưng văn minh Nhật Bản đã sớm
biết phá vỡ tính biệt lập, sẵn sàng chịu chấp nhận những giá trị hợp lí của văn
minh phương Tây. Nhờ vậy, Nhật Bản đã có được chỗ đứng đáng nể trên thế giới
của thế kỉ XX.
- Khái niệm văn minh phương Đông và văn minh phương Tây cũng chỉ
mang tính chất rất tương đối. Nhiều giá trị của văn minh phương Tây có nguồn gốc
từ phương Đông và ngược lại. Ngày nay đi tìm một nền văn minh nào chỉ hoàn toàn
do dân tộc đó xây dựng nên cũng khó như đi tìm một dân tộc nào thuần chủng.
Trong cuộc giao lưu, cọ xát này, các nền văn minh dân tộc có cơ hội giao lưu
với nhau, tiếp thu thành quả của nhau. Khi xem xét một nền văn minh của một dân
tộc nào, phải đặt nó trong mối liên quan với các nền văn minh mà nó có quan hệ,
nhất là khu vực quan hệ đó lại nằm trong vùng ảnh hưởng của một nền văn minh
lớn.
- Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay thì sự hoà nhập giữa các
nền văn minh là một điều tất yếu. Sự hoà nhập này lại được thúc đẩy nhanh bởi
các phương tiện giao thông hiện đại, cùng với mạng thông tin toàn cầu. Một vài
ngôn ngữ đang ngày trở thành ngôn ngữ phổ biến, dùng chung cho các dân tộc như
tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ảrập. Tiếng Nga, Trung Quốc, Hindu tuy chưa mang
tầm cỡ bằng nhưng được nhiều người sử dụng nên cũng có một tầm quan trọng đáng
kể.
- Những thành tựu của văn minh thế giới ngày nay là kết quả
chung những tri thức mà cả loài người đã xây dựng, tích luỹ qua bao thế hệ. Văn
minh thế giới chứa đựng những nét chung nhất mà mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều
tiếp thu và vận dụng nó vào cuộc sống của dân tộc mình. Do những điều kiện tự
nhiên và điều kiện lịch sử khác nhau, giá trị văn hoá của mỗi dân tộc có những
nét khác nhau, có những sắc thái riêng biệt. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để
tiếp thu những yếu tố hợp lí, tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực.
- Dân tộc Việt Nam không phải bây giờ mới đứng trước
thách thức khi phải tiếp xúc với các nền văn minh khác. Dân tộc ta nằm giữa hai
nền văn minh lớn của Châu Á là Ấn Độ và Trung Hoa. Trong quá trình lịch sử, bên
cạnh việc tiếp thu những giá trị từ văn minh Ấn Độ và Trung Hoa, chúng ta vẫn
giữ những bản sắc văn hoá riêng của mình, mặc dù có thời gian hàng ngàn năm bị
đô hộ, bị cố tình đồng hoá. Trong thời kì bị thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm
lược, bên cạnh việc tiếp thu những giá trị của văn minh phương Tây chúng ta
cũng đã chứng tỏ sức sống dân tộc và bản lĩnh văn hoá của mình. Chúng ta không
chỉ tiếp thu mà còn đóng góp phần của mình vào văn minh nhân loại. Những nhà
văn hoá của chúng ta như Lê Quí Đôn, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh... là những người
được thế giới biết đến và công nhận.
- Trong xu thế hội nhập tất yếu ngày nay, dù muốn hay không
chúng ta vẫn phải tham gia, phải đương đầu để mà tồn tại và phát triển. Bên
cạnh những cơ hội mới, chúng ta cũng gặp phải rất nhiều thách thức mới. Hàng
ngàn năm trước, dân tộc ta cũng đã phải đối phó với những thách thức để tồn tại
và dân tộc Việt Nam vẫn giữ được chỗ đứng của mình trên bản đồ thế
giới. Mỗi thế hệ đều có những thách thức riêng của mình. Lịch sử đã chứng minh,
dân tộc nào đóng cửa để tìm cách tự bảo vệ là thất bại. Trong quá trình hội
nhập hiện nay, chúng ta cần chủ động tìm hiểu sự đa dạng về văn hoá của các dân
tộc khác, tiếp thu những giá trị văn minh chung của nhân loại để góp phần nhỏ
bé của mình vào mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và bảo
vệ, phát huy những tinh hoa của văn hoá dân tộc.
Nhận xét
Đăng nhận xét